Wednesday, November 20, 2013

Bằng chứng bán nước toàn diện của cộng sản Việt Nam

Những sự thật cần phải biết - (Phần 30) - Bằng chứng bán nước toàn diện của cộng sản Việt Nam
Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Cộng sản Việt Nam đã bán nước cho Tàu? Câu hỏi đó là sự thật rất nhiều người biết. Nhưng thực chất cộng sản bán nước từ bao giờ? Nhằm hệ thống lại một lần nữa cả một quá trình bán nước của cộng sản Việt Nam mà đứng đầu bắt nguồn từ Hồ Chí Minh. Để từ đó, mỗi chúng ta cần phải thấy rằng: Không còn cơ hội cho chúng ta vô cảm với dân tộc nữa. Phải đứng lên lật đổ bọn bán nước cộng sản để cứu dân tộc càng nhanh càng tốt!

I. Những bằng chứng thực tế:


1. Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh:

Trong chuỗi dài hành trình bán nước của mình thì cộng sản Việt Nam đã thể hiện ra bên ngoài bằng hành động có chứng cớ đầu tiên phải nói đến đó chính là công hàm 1958. Xin được tóm tắt lại một số ý chính của công hàm này (Có thể xem đầy đủ tại:


a. Tuyên bố của phía Trung cộng về chủ quyền ở HS-TS của VN:

Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung cộng mà đại diện là thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố về chủ quyền hải đảo của Trung cộng. Tuyên bố này được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân. Bạn đọc có thể tìm hiểu tại links sau: lunwen2.com/New-190.html (Những links cũ trong “Những sự thật không thể chối bỏ” - phần 2 đã bị xóa). Nội dung của tuyên bố trên của Trung cộng được dịch ra tiếng Việt như sau:

b. Trước hết là bản dịch của dịch giả Trần Đồng Đức:

Công bố của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về lãnh hải ngày 4 tháng 9 năm 1958

Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc (Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa).

Đại biểu ủy viên thường vụ đại hội nhân dân toàn quốc liên quan việc phê chuẩn quyết nghị công bố lãnh hải của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

(Ngày 4 tháng 9 năm 1958 đại hội ủy viên thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc hội nghị thứ 100 thông qua)

Quyết nghị

Ngày 4 tháng 9 năm 1958 đại hội ủy viên thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc hội nghị thứ 100 thông qua quyết định phê chuẩn về tuyên bố lãnh hải của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Đính kèm: Công bố của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về lãnh hải

Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố:

* Một: Lãnh hải của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc.

* Hai: Lãnh hải của Trung Quốc đại lục và duyên hải của các đảo được tính theo đường thẳng nối liền những điểm mốc ven bờ làm đường biên cơ sở, thủy vực từ đường biên cơ sở này hướng ra ngoài 12 hải lý là lãnh hải của Trung Quốc. Phần nước thuộc đường biên cơ sở này hướng vào bên trong, bao gồm vịnh Bột Hải, phần trong hải vực Quỳnh Châu, đều là phần nội hải của Trung Quốc. Các đảo thuộc đường biên cơ sở này hướng vào trong, bao gồm đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, đảo Mã Tổ, đảo Bạch Khuyển, đảo Điểu Khưu, đảo Kim Môn lớn nhỏ, đảo Nhị Đảm, đảo Đông Định đều thuộc về các đảo thuộc nội hải của Trung Quốc.

* Ba: Tất cả phi cơ và thuyền bè quân dụng của ngoại quốc, chưa được chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho phép, không được tiến nhập vào lãnh hải vào không gian trên lãnh hải. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào vận hành tại lãnh hải của Trung quốc, phải tôn trọng pháp lệnh hữu quan của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

* Bốn: Dựa trên nguyên tắc quy định 2, 3 áp dụng cho cả Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc. Đài Loan và Bành Hồ địa khu hiện nay đang bị Mỹ dùng vũ lực xâm chiếm. Đây là hành vi phi pháp xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn của lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đài Loan và Bành Hồ đang chờ đợi để thu hồi, chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa sử dụng tất cả những phương pháp thích đáng tại một thời điểm thích đáng để thu phục những khu vực này, đây là chuyện nội bộ của Trung Quốc, không cho phép ngoại quốc can thiệp.

(Chú ý ở đây: Tây Sa và Nam Sa là cách gọi của Trung Cộng về HS-TS của Việt Nam)

Tuyên bố của Trung cộng

c. Bản dịch của báo Đất Việt (Cộng sản Việt Nam):

Nội dung bản dịch này là chính xác bản thân chúng ta có thể kiểm chứng. Tôi xin nêu ra đây một minh chứng bản dịch của Trần Đông Đức là chính xác vì vấn đề chính trong tuyên bố Trung cộng tuyên bố về chủ quyền HS-TS đã được tờ Đất Việt (Báo của đảng cộng sản Việt Nam công nhận). Đây là links của bài báo đó trên tờ Báo Đất Việt (Chi nhánh của BQP cộng sản): baodatviet.vn/quoc-phong/201107/Su-that-ve-cong-ham-cua-Thu-tuong-Pham-Van-dong-2256218/

Trong bài viết của báo Đất Việt có đoạn: Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4/9/1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).

Như vậy: Trung cộng rõ ràng đã tuyên bố HS-TS là của họ trong tuyên bố 4/9/1958 của Chu Ân Lai. Cả dư luận lẫn đảng cộng sản Trung quốc, cộng sản Việt Nam công nhận.

d. Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng:

Ngay sau khi tuyên bố của Trung cộng về việc HS-TS là của họ thì Phạm Văn Đồng lúc đó là thủ tướng Việt Nam Dân Chủ cộng hòa (VNDCCH) tiến hành việc đưa ra công hàm ký ngày 14/9/1958. Công hàm này như sau:


Công hàm này ngoài ra thời điểm đó còn được các tờ báo Nhân dân thời điểm đó đưa tin (Báo nhân dân là cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Việt Nam). Đây là hình ảnh của Báo nhân dân đã đưa tin về sự kiện này:


Và ngay sau đó thì sáng ngày 21.9.1958, Nguyễn Khang, Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Trung cộng, đã gặp Cơ Bàng-phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đã chuyển bức công hàm của Phạm Văn Đồng đến Chu Ân Lai.

Trước đó, năm 1956, Ung Văn Khiêm, nhân tiếp phái đoàn ngoại giao Trung cộng, Thứ Trưởng bộ Ngoại Giao có tuyên bố với Lý Chí Dân (Li Zhimin), tham tán sứ quán Trung cộng tại Việt Nam: “chiếu theo tài liệu Việt Nam thì HS và TS thuộc về Trung Quốc”.

Lê Lộc, Chủ Tịch Châu Á Sự Vụ, nhân có mặt cũng nói vào: “Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc TQ từ thời nhà Tống”. Sự việc này tạp chí Beijing Review ngày 18 tháng Hai năm 1980 đã có đăng lại trong bài "Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa".

Sau này, khi trả lời Xuân Hồng BBC thì bà Bảy Vân vợ Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Duẩn nói: "Phạm Văn Đồng có ký văn bản: Ngụy nó đóng ở ngoài đó. Cho nên giao cho TQ quản lý Hoàng Sa... Phạm Văn Đồng có ký tên..". Điều này càng xác nhận cho việc bán nước của Phạm Văn Đồng là không thể chối cãi. Bạn đọc có thể xem clips phỏng vấn tại: youtube.com/watch?v=z8jX8YrRiG4

Trong cuộc phỏng vấn GS Hà Văn Thịnh - giảng dạy môn lịch sử tại trường Đại học Huế của RFA có nói: "Hồi đó tôi học năm thứ nhất Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Nói thực là ông Hoàng Tùng khi đó, tôi không nhớ rõ thầy giới thiệu như thế nào, nhưng mà thầy giới thiệu là các em hôm nay - 180 sinh viên Khoa Sử - Đại Học Tổng Hợp Hà Nội nghe ông Hoàng Tùng - Ủy viên Trung Ương đảng, Tổng biên tập báo Nhân Dân, hay là Ban tư tưởng Trung ương gì đó, chức vụ tôi không nhớ, nhưng mà ông Hoàng Tùng nói chuyện về lịch sử thì ông có nói chuyện Hoàng Sa. Ông nói nguyên văn thế này: "Vì ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và chưa đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn Trung Quốc giải phóng. Sau này mình thống nhất đất nước rồi phía bạn sẽ trả cho mình.".


Hội nghị về COC - DOC tại Indonesia ngày 4/9/2010 với tính cách phi chính phủ về vùng biển Nam Trung Hoa. Tại các buổi hội thảo lúc có lúc không này, phía cộng sản Việt Nam một lần nữa lại thấy bối rối khi được yêu cầu giải thích về sự im lặng của họ năm 1974, khi Trung Quốc nắm giữ cái mà Việt Nam bây giờ tuyên bố là một phần của lãnh thổ họ. “Trong thời gian này”, cộng sản Việt Nam nói, “có những tình trạng rắc rối về chính trị và xã hội tại Việt Nam, cũng như trên thế giới, mà phía Trung Quốc đã lợi dụng, theo từng bước một, để dùng biện pháp quân sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Và Trung Quốc đã thu gọn toàn bộ Hoàng Sa vào năm 1974.”.

Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao, trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 nói như sau: "Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này."

Năm 1977, bản thân Phạm Văn Đồng giải thích quan điểm của ông ta về công hàm này một cách gượng gạo: "đó là thời chiến nên phải nói như vậy thôi".

2. Mất đất và biển khắp nơi:

Không chỉ mất Hoàng Sa - Trường Sa cho Trung cộng bằng công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh thì hiện trạng mất đất và mất biển cũng diễn ra khắp nơi.

Thứ nhất, về mất biển: Ngày 25/12/200, Trần Đức Lương đến Bắc Kinh cùng Giang Trạch Dân ký Hiệp Ước cắt 11.362 km2 trên vịnh Bắc bộ cho Trung cộng, là hành động cắt biển bán cho Trung cộng để lấy 2.000.000.000 Usd, để về chia chác cho Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải... để đổi lấy những cái gật của Khải, Kiệt v.v...

Sau vụ bán nước cho Trung Cộng, theo lời ông Hoàng Minh Chính cho biết thì không ai biết được ai trong bộ chính trị đã ký tên trong vụ bán nước này, Bộ chính trị cộng sản đã dấu nhẹm chuyện này và BÍ MẬT đã được BẬT MÍ và sau đây là những diễn biến về cuộc BÁN NƯỚC:

1) Lê Khả Phiêu bị Trung cộng gài Mỹ Nhân Kế lấy cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) lúc Lê Khả Phiêu sang thăm Trung Quốc năm 1988 và sinh được một bé gái. Phiêu không đem con về vì sợ tai tiếng đưa đến nhiều lần Trung Cộng gửi văn thư đòi lấn vùng biển vào tháng 1 năm 1999. Đồng thời đòi đưa ra ánh sáng vụ nầy nếu Phiêu không hợp tác. Và buộc Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký bản hiến biển ngày 30 tháng 12 năm 1999.

2) Ngày 31 tháng 12 năm 1999 phái đoàn Trung Quốc cầm đầu do Tang Jiaxuan và tình báo Trung cộng sang Việt Nam, họ gặp kín Lê Khả Phiêu bàn thêm về vấn đề hiến đất.

3) Ngày 25 tháng 2 năm 2000, Lê Khả Phiêu phái Nguyễn Duy Niên sang Trung cộng và Nguyễn Duy Niên cho biết Lê Khả Phiêu đã đồng ý việc hiến thêm đất. Trung cộng nghe tin rất hoan hỉ mở tiệc chiêu đãi Nguyễn Duy Niên một cách nồng nhiệt với nhiều mỹ nữ ở nhà khách Diao-yu-tai ăn nhậu cùng Ngoại Trưởng Tang Jiaxuan.

4) Bộ Trưởng Trung cộng Tang Jiaxuan gửi thư kín nhắn tin muốn gặp Bộ Trưởng cộng sản VN tại ThaiLand khi Tang Jiaxuan viếng thăm nước này. Ngày 26 tháng 7 năm 2000. Nguyễn Duy Niên đáp chiếc Air Bus bay từ phi trường Nội Bài vào lúc 6 giờ 47 sáng sang Thailand gặp Bộ Trưởng Ngoại giao TC tại khách sạn Shangri-La Hotel Bankok phía sau phòng Ballroom 2. Cuộc gặp rất ngắn ngủi. Tang giao cho Niên một chồng hồ sơ đòi cộng sản Việt Nam hiến thêm đất, biển trong hồ sơ ghi rõ TQ đòi luôn 50/50 lãnh hải vùng Vịnh Bắc Việt, đòi Việt Nam cắt 24,000 sq Km vùng biển cho TQ. Ngày 28 tháng 7 bộ chính trị nhóm chóp bu họp kín.

5) Sau hai tháng họp kín và bàn bạc, Bộ Chính trị cộng sản VN cử Phan Văn Khải qua gặp mặt Lý Bằng. Phan Văn Khải bay chuyến máy bay sớm nhất rời Việt Nam ngày 26 tháng 9 năm 2000 qua Bắc Kinh và được xe Limo chở từ phi trường Bắc Kinh về Quảng Trường Nhân Dân vào trưa hôm đó. Lý Bằng cho Khải biết là hai tay Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân đã gặp nhau 2 lần cho vụ hiến đất rồi.

Lý Bằng cho biết Nông Đức Mạnh phải được cử làm Tổng Bí Thư sau khi Lê Khả Phiêu xuống, nếu không thì sẽ bị Trung cộng “đòi nợ cũ”, Khải trước khi về vẫn khước từ vụ hiến vùng biển VN và nói với Lý Bằng là sẽ xem lại sự việc. Sau đó Lý Bằng bắt Khải ngồi chờ, nói là Chủ tịch Giang Trạch Dân muốn gặp Khải tại Zhong-nai-hai và sau đó Khải được đưa đi gặp Giang Trạch Dân và cho Zhu Rongji hù dọa Khải nói: “Trung Quốc đã nắm trong tay Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh... nếu không nghe lời TQ Khải sẽ bị tẩy chay và coi chừng bị “chích thuốc”. Khải cúi đầu và run sợ, sau đó đòi về. Trước khi Khải về, một lần nữa Giang Trạch Dân nhắn Khải gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh chứ không nhắc tới tên người khác trong Quốc Hội cộng sản VN. Khải không được khoản đãi như một vị quốc khách vì tính tình bướng bỉnh không nghe lời đàn anh...”.

6) Vào ngày 24 tháng 12 năm 2000, Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao cộng sản Lê Công Phụng được Trần Đức Lương âm thầm phái đến Trung Quốc gặp quan chức tình báo của Trung cộng là Hoàng Di - cánh tay phải của Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung cộng. Di nói tiếng Việt rất rành. Hai bên đã gặp nhau ở một địa điểm X gần biên giới Việt (tỉnh Móng Cái Việt Nam). Theo bản báo cáo cho bộ chính trị cộng sản VN, Lê Công Phụng cho biết lúc đầu Hoàng Di vẫn khăn khăn đòi chia 50/50 với Việt Nam về vùng biển Vịnh Bắc Việt “Beibu Bay” đòi lấy luôn đảo Bạch Long Vĩ sau đó Phụng, được bộ chính trị dặn trước là xin lại 6% của Vùng biển gần khu vực Bạch Long Vĩ vì đã được lâu đời là của Việt Nam, Kết quả cuộc đi đêm Việt Nam còn lại 56% Vịnh Bắc Việt và mất đi 16,000 Km2 vùng vịnh cho Trung cộng.

7) Ngày 25 tháng 12 năm 2000, Trần Đức Lương từ Hà Nội qua Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân và được đưa về Thành Bắc của Quảng Trường Nhân Dân, theo tài liệu lấy được của tình báo Trung cộng. Trần Đức Lương và Lê Khả Phiêu chính thức quyết định thông qua bản hiệp ước hiến đất bất chấp lời phản đối của Khải và nhiều người trong quốc hội. Bản hiến chương hiến đất cho Trung Quốc được chính Giang Trạch Dân và đảng cs Trung Cộng trả cho số tiền là 2 tỉ USD được chuyển cho các quan chức cộng sản chia nhau.

8) Ngày 26 tháng 12 năm 2000 vào lúc 2 giờ trưa, Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân. Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ dollar để mua 16,000 km2 vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý. Trần Đức Lương cám ơn Trung cộng về số tiền này... Sau cuộc gặp này thì Khải, Kiệt v.v... đã đồng ý với quyết định bán đất cho Trung cộng vì có phần chia chác trong số tiền này. Lý Bằng nhắc lại chuyện Trung cộng đã bán vũ khí và hổ trợ cho cộng sản VN trong thời gian chiến tranh và số nợ trên Trung cộng dùng để trao đổi mua lại vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc, Cao Bằng... Sau đó Lương được mời lên xe Limo và đưa về Zhong-nan-hai để gặp Zhu Rongji, Zhu Rongji không nói gì khác hơn là nhắc lại số tiền 2 tỉ USD sẽ được giao cho Việt Nam sau khi Lương trở về nước.

9) Ngày 26 tháng 2 năm 2001 Nguyễn Mạnh Cầm bay sang Trung Quốc để gặp Qian Qichen tại đảo Hải Nam. Nguyễn Mạnh Cầm cám ơn Trung Quốc đã mua vùng Vịnh Bắc bộ của Việt Nam (Beibu Bay) với giá 2 tỉ USD.

Nếu bạn đọc chịu khó tìm hiểu lại “Những sự thật cần phải biết” từ phần 23 đến phần 28 và 16 sẽ thấy rõ những tên thủ phạm, đó là những: Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt v.v...

Thứ hai, khi nói đến mất đất cho Trung cộng, chúng ta không thể nào quên việc mất đất tại Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm và những Boxit Tây Nguyên, Đông Đô Đại Phố, Đảo Gạc Ma, Đỉnh Lão Sơn v.v...

Không khó để thấy thêm những bằng chứng cho thấy cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn theo gương Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tiếp tục bán nước với những phát biểu tri ân giặc:

Đầu tiên là bản Tuyên bố chung 10 điểm “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc - Việt Nam” ký kết ngày 21/06/2013 giữa Tập Cận Bình tổng bí thư đảng cộng sản Trung cộng và Trương Tấn Sang.

Tiếp sau đó, để đền đáp “công ơn” hiểm độc trên của Trung cộng, Phùng Quang Thanh đại tướng ủy viên BCT / TW đảng, bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay mặt đảng, quân đội Nhân Dân Việt Nam khẳng định tại buổi họp mặt kỷ niệm ngày thành lập Giải Phóng Quân Trung Quốc tại Bộ Quốc Phòng Việt Nam ngày 28/7/2012 như sau: “...Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam...”

Tiêu biểu cho tư tưởng chiến lược của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Trần Đăng Thanh đại tá phó giáo sư - tiến sĩ, nhà giáo ưu tú, thuộc học viện Chính trị Quốc Gia Bộ Quốc Phòng trong một buổi giảng bài tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây ngày 19/12/2012 đã phân tích: “... Trong 4 năm kháng chiến chống Pháp, 21 năm chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Như vậy ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên...”.

Thứ ba, những bằng chứng mất biển đảo, đất đai khắp nơi đó xin được tóm tắt như sau:

- Tài liệu của CSVN, "Vấn đề Biên giới giữa Vệt Nam và TC" do NXB Sự Thật Hà Nội ấn hành năm 1979 xác nhận thác Bản Giốc của Việt Nam.

- Còn đây là sự thật về sự mất thác Bản Giốc mà các bạn hoàn toàn có thể kiểm chứng bằng hình ảnh và luận cứ:


Xin được trích lại một lời phát biểu của ông Mai Thái Lĩnh về vấn đề này như sau: 

"Ông Mai Thái Lĩnh: Bài viết của tôi vừa rồi có nhan đề là “Sự thật về Thác Bản Giốc” (Phần 1 và phần 2). Thật ra không phải tất cả đều là ý kiến của tôi, mà đây có thể nói là một công trình tập hợp tất cả những bằng chứng mà nhiều bài viết trước đây - nhiều người đã viết trong vòng khoảng chục năm nay, để chứng minh thác Bản Giốc hoàn toàn là của Việt Nam.

Trong đó đáng kể nhất là một nhà nghiên cứu ở Pháp, ông Trương Nhân Tuấn, một Việt kiều sinh sống ở Pháp. Ông đã sưu tập được rất nhiều tài liệu thành văn về quá trình ký kết và cắm mốc giữa hai bên -- giữa Pháp và nhà Thanh, vào cuối thế kỷ thứ 19.

Còn ở trong nước, tôi xin lấy ví dụ như ông Hàn Vĩnh Diệp, một đảng viên Cộng Sản và là một cán bộ hưu trí. Ông này đã từng 7 lần đến thăm Bản Giốc, từ 1958 đến 2006, và có lần từng ở lại một ngày một đêm ở bờ bắc của sông Quây Sơn. Địa điểm này bây giờ, theo như tác giả viết, đã thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc rồi.

Tất cả những luận điểm của các tác giả nói trên vẫn còn một số điểm chưa thật chính xác, vẫn còn những lỗ hổng, khiến cho toàn bộ chưa có tính chất thuyết phục. Khó khăn lớn nhất là thiếu những bản đồ chi tiết để giải thích rõ trước đây đường biên giới như thế nào và hiện nay đường biên giới thay đổi ra sao. Nhất là cột mốc số 53.

Vừa rồi, trong quá trình nghiên cứu, tôi tìm được một số bản đồ. Đặc biệt là qua mạng internet tôi tìm được hai tờ bản đồ, tỉ lệ 1/50,000. Một là bản đồ do Quân đội Hoa Kỳ in năm 65 và một là của Quân đội Nhân dân Việt Nam in năm 1980. Hai bản đồ này về cơ bản thì địa hình rất giống nhau. Chỉ có khác là tờ bản đồ của Việt Nam thì Việt Nam đã Việt hóa và điều chỉnh một số điểm, nhất là địa danh. Quan trọng nhất là hai tờ bản đồ này có ghi rõ tọa độ địa lý và có những vòng cao độ, và trong đó đặc biệt là có ghi rõ các cột mốc nằm ở đâu. Cho nên tôi nghĩ rằng những người có trình độ về bản đồ học có thể căn cứ vào cái này để xác định tọa độ các cột mốc một cách hết sức chính xác.

Ngoài ra còn có một tờ bản đồ chi tiết về đường biên giới mới. Tờ bản đồ này sở dĩ có được là vào cuối tháng 10 năm 2011 có một đoàn nhà văn quân đội đã lên thăm đồn biên phòng Đàm Thủy ở gần thác Bản Giốc và chụp ảnh lại bản đồ chi tiết về đường biên giới này.

So sánh mấy tờ bản đồ với nhau thì chúng ta thấy rõ ràng là cột mốc 53 đã bị dời đi, đường biên giới bị sửa đổi, và do vậy nên ta mất đi một nửa thác chính của thác Bản Giốc. Cho nên có thể nói là với những tư liệu này chúng ta có thể chứng minh được thác Bản Giốc trước hoàn toàn là của Việt Nam.

Và tất cả những điều này rất ăn khớp với tất cả những tư liệu về địa lý trước đây của nước ta, cũng như ăn khớp với những điều mà trong bản Bị Vong Lục ngày 15 tháng 3 năm 1979 mà Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố trong cuốn sách “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” do Nhà Xuất bản Sự Thật xuất bản vào năm 1979. Có thể nói là tất cả rất có hệ thống và rất chính xác và đã chứng minh rằng thác Bản Giốc là hoàn toàn thuộc về Việt Nam.”


CSVN thừa nhận mất thác Bản Giốc: Trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo chí, Thứ trưởng Ngoại giao Cộng sản Việt Nam là Vũ Dũng, cũng là trưởng đoàn đàm phán biên giới giữa Việt Nam và Trung cộng, đã tìm mọi cách để biện minh cho việc cắt đất dâng biển cho Bắc Kinh, và thú nhận đã để mất Thác Bản Giốc và Ải Nam Quan.

Trong cuộc phỏng vấn, Vũ Dũng cho biết hơn 7 năm sau khi cắm cột mốc đầu tiên, Việt Nam và Trung Cộng đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc 1400 cây số biên giới. Trong cuộc đàm phán cuối cùng trong 3 ngày qua, vấn đề mấu chốt còn lại là khu vực thác Bản Giốc ở Cao Bằng và cửa sông Bắc Luân ở Quảng Ninh. Nay sau khi thương lượng, kết quả vẫn như cũ là tại thác Bản Giốc, hai bên đã thống nhất đường biên giới đi từ mốc 53 cũ. Thác Bản Giốc có hai phần, phần hoàn toàn về phía Việt Nam gọi là thác cao, nhưng lại là thác phụ vì lượng nước không lớn. Thác thấp là thác chính sẽ chia đôi, mỗi bên được một nửa.

Vũ Dũng nói rằng hai bên hứa hẹn sẽ không xây dựng các công trình nhân tạo trong phạm vi hẹp khu vực thác để giữ nguyên cảnh quan, vì đây là một thác đẹp có thể khai thác du lịch, và Trung cộng cũng hứa hẹn sẽ hợp tác phát triển du lịch khu vực thác Bản Giốc. Hai bên còn hai cột mốc nữa ở thác Bản Giốc chưa cắm, đó là cột mốc trên thượng lưu ở mốc 53 và cột mốc ở ngay dưới chân thác.


- Và còn đây là những sự thật về mất Lão Sơn và những Đông đô đại Phố, người Tàu ở Hà Tĩnh v.v... mà chúng ta có thể dễ dàng kiểm chứng trong muôn vàn những sự thật về một Việt Nam “Đầy ắp Trung cộng”:

+ Sự thật mất Lão Sơn:

+ Hà Tĩnh phố Tàu:

Còn đây là một đoạn trích trên báo Pháp Luật - TPHCM (của chính cộng sản thừa nhận): “Trải dài 30 km dọc quốc lộ 1A qua các xã Kỳ Liên, Kỳ Long, Kỳ Thịnh (Kỳ Anh) xuất hiện hàng trăm quán cắt tóc, cơm, nhà hàng, khách sạn biển hiệu Trung Quốc, Đài Loan. Ông Nguyễn Văn Hùng, một người dân Kỳ Liên, cho biết: “Lao động Trung Quốc thường gợi ý nên lắp biển hiệu chữ họ và từ chối vào quán không có tiếng Trung. Vì vậy một số cửa hàng đặt biển hiệu toàn chữ Trung không có một chữ tiếng Việt, thậm chí không tiếp người Việt. Nhiều lúc tôi tự thắc mắc sao người ta lại biến đất Việt thành đất Tàu…!”


Và đây là nguyên nhân:


+ Boxit Tây Nguyên:

Với dự án khai thác bauxite Tây Nguyên (2001), hợp đồng cho thuê rừng đầu nguồn của 10 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, Trung Quốc đã nghiễm nhiên trở thành chủ nhân ông của những cao điểm chiến lược để khống chế Việt Nam và Đông Dương. 

Và còn rất, rất nhiều bằng chứng mà chúng ta có thể dễ dàng thấy: chúng ta đã mất biển đảo, đất đai trên khắp quê hương Việt Nam cho giặc Trung cộng.

3. Hán hóa đàn áp lòng yêu nước:

Để tiến hành việc Hán hóa và đàn áp lòng yêu nước của nhân dân ta, cộng sản đã đưa rất nhiều hình thức mà trong một vài bài viết không thể lột tả hết, do đó xin điểm lại một số điểm chính để bạn đọc có thể thấy hết bản chất bán nước của cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, về sách dạy tiếng Tàu, cờ sáu sao là những biểu hiện đầu tiên của sự nghiệp Hán hóa của Trung cộng mà cộng sản Việt Nam đã áp đặt. Các bạn có thể đọc được dễ dàng từ nguồn “báo đảng”:

Bảng chữ cái Trung Quốc in trên bàn học sinh

 Cờ sáu sao bán nước

Thậm chí ngay cả người dùng điện thoại di động cũng được thông báo bằng tiếng Trung cộng (Bài viết từ báo đảng: giaoduc.net.vn/Kinh-te/Thi-truong/Kho-hieu-thong-bao-tieng-TQ-chen-ngang-cuoc-goi-cua-MobiFone/294406.gd ).

(Tổng đài mobifone: 18001090 dùng tiếng Tàu nhắn tin)

Thứ hai, việc mở viện Khổng tử gần đây cũng là một bằng chứng chứng tỏ cộng sản đang dần bắt người Việt chúng ta thành tộc Hán.


Nhưng nó được bắt đầu từ đây:

Tờ nhật báo “Tiếng Dội” số 462, năm thứ 3, 1951, Âm lịch 22 tháng Bảy năm Tân Mão, giá bán 1 đồng, của Chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, Tòa soạn, Quản lý 216 đường Gia Long Sài Gòn, có bài mang tựa đề “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Quốc”, cho in nguyên văn một tờ truyền đơn do Trường Chinh ký như sau:

“ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA 
NĂM THỨ VII 
TỔNG THƯ KÝ ĐẢNG LAO ĐỘNG VN 
SỐ: 284/LĐ ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC 

Hỡi đồng bào thân mến!

Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào!

Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế?

Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Âu Tây ấy - một cách viết rõ ràng có mau thật đấy - và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc.

Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta - mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế - có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi!

Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Đế quốc phương Tây đem qua xứ ta!

Ta hãy bỏ nhà bảo sanh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu!!!!

Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa học, phát minh v.v...

Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân!

Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.

Trường Chinh

Tổng thư ký đảng Lao Động”.

Đây là một văn bản cho thấy đảng cộng sản chủ trương bán nước và Hán hóa dân tộc, kêu gọi làm chư hầu rõ rệt nhất cho Trung cộng. Việc này là một sự cho thấy rõ nét âm mưu Hán hóa của đảng cộng sản trong vô vàn hành động khác. Số báo Tiếng Dội này nằm trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum - London). Bạn đọc hoàn toàn có thể kiểm chứng.

Thứ ba, việc đàn áp các cuộc biểu tình chống Tàu cũng là một biểu hiện cho thấy cộng sản bán nước toàn diện. Nếu không bán nước thì lý do gì ngăn cấm lòng yêu nước? Nhiều lắm những Nguyễn Văn Hải, Phạm Thanh Nghiên vv.. đã phải vào tù về lòng yêu nước của mình bị đảng cộng sản bắt vì “phản động”.

Vụ án blogger Điếu Cày

Vụ án Phương Uyên – Nguyên Kha

Đàn áp biểu tình yêu nước:

Không bán nước sao đàn áp người yêu nước?

II. Bán nước có hệ thống:


Những bằng chứng thực tế bán nước của cộng sản là rõ ràng, không thể chối cãi. Tuy nhiên nó được xuất phát bằng văn bản như thế nào? Trong khuôn khổ bài viết này sẽ nói về điều đó:

Thứ nhất, ngày 3.12.2001 trong “Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh “cụ thể là trong điểm thứ 6: “6- Hai bên xác định trong thế kỷ mới cần tiếp tục tăng cường và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học-kỹ thuật và các lĩnh vực khác giữa hai nước theo phương châm bình đẳng, cùng có lợi, chú trọng hiệu quả, bổ sung ưu thế cho nhau, hình thức đa dạng, cùng nhau phát triển; tích cực khuyến khích và ủng hộ các doanh nghiệp hai bên khai thác thêm thị trường hàng hóa của hai nước, tăng cường đầu tư và hợp tác, mở rộng quy mô hợp tác kinh tế và kỹ thuật, thực hiện các dự án hợp tác đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội thiết thực.

Nhân dịp này, hai bên đã ký Hiệp định khung giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi và Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ; và nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Đắc Nông.

Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng Trung Quốc trở thành thành viên Tổ chức thương mại thế giới. Trung Quốc tích cực ủng hộ Việt Nam sớm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới.”

(xem toàn văn tại website của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ: viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20011203000335 )

Tháng 11.2006, Hồ Cẩm Đào sang Việt Nam chuyến nữa. Lần này thông báo viết: “Từng bước cải thiện cơ cấu mậu dịch, cố gắng thực hiện phát triển cân bằng và tăng trưởng bền vững thương mại hai chiều. Tích cực ủng hộ và thúc đẩy doanh nghiệp hai nước hợp tác lâu dài và cùng có lợi trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, khai thác nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác. Khẩn trương bàn bạc và thực hiện các dự án lớn như bô-xít Đắc Nông…”

(Xem tại website của báo Sài Gòn Giải Phóng cộng sản: sggp.org.vn/apec/2006/11/71847/).

Qua đây chúng ta thấy điều gì? Đó là Nông Đức Mạnh và đảng cộng sản đã bán nước cho Trung cộng thông qua dự án Bô Xít Tây Nguyên. Đó là bằng chứng không thể chối cãi của kẻ đứng đầu đảng độc tài cộng sản.

Theo một tài liệu được tiết lộ bởi Wikileaks thì Vụ Bauxit Tây Nguyên, Nông Đức Mạnh nhận 300 triệu USD - Nguyễn Tấn Dũng 150 triệu USD: “Những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la...

Theo tin từ một thân hữu báo chí ở Norway (Na Uy), một điện văn trong số 250,000 mà WikiLeaks lấy được từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và đã giao cho tờ báo buổi chiều lớn nhất Na Uy là tờ Aftenposten thì có một điện văn liên quan về Việt Nam nói đến dự án khai thác bô-xít nhôm ở Tây Nguyên.

Nội dung điện văn chính yếu là yêu cầu Bộ Tài Chính Hoa Kỳ giúp điều tra và xác minh một số giao dịch ngân hàng quốc tế. Cụ thể, theo điện văn này thì một nguồn tin trong giới ngân hàng Việt Nam cho biết kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la.

Cũng trong điện văn này, nguồn tin từ ngân hàng Việt Nam cho biết những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Các chuyển ngân trong phần của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thì không đề cập đến ngân hàng nước nào”.


Mặc dù chưa kiểm chứng được bằng văn bản công khai của Wikileaks nhưng việc đàn áp biểu tình chống Trung cộng (Trong đó có chống khai thác Bo xit Tây Nguyên), lặng im xem các ý kiến phản đối của nhiều quan chức như Đặng Hùng Võ, nhóm 72 và nhiều tổ chức, cá nhân khác của cộng sản Việt Nam có thể xem là bằng chứng về việc cộng sản nhận tiền và cho giặc Tầu vào làm boxit tại Việt Nam. Một minh chứng đặc biệt cho việc này là TS Cù Huy Hà Vũ đã vào tù vì việc chống lại chủ trương cho Trung cộng khai thác Bo Xit Tây Nguyên. Người ta nếu không nhận tiền bán nước thì không thể bỏ tù một tiến sỹ Luật, con của một đại công thần cộng sản vì một lý do lãng nhách nào khác.

Thứ hai, theo tin từ blog “Hỏi và trả lời” có bài viết nội dung sau: “10 giờ sáng ngày 08-04-2013, Thiếu tướng Hà Thanh Châu, Chính Ủy Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng (Chủ Nhiệm Tổng Cục là Trung Tướng Nguyễn Đức Lâm) được Luật Sư William Lê hướng dẫn đến Sở Di Trú King County, Seattle, tiểu bang Washington State, nạp đơn "xin tỵ nạn chính trị", sau 2 tuần lễ ông và vợ ông đi thăm 3 người con đang là "du học sinh" ở tiểu bang này.

"10 giờ sáng ngày 08-04-2013, Thiếu tướng Hà Thanh Châu, Chính Ủy Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng (Chủ Nhiệm Tổng Cục là Trung Tướng Nguyễn Đức Lâm) được Luật Sư William Lê hướng dẫn đến Sở Di Trú King County, Seattle, tiểu bang Washington State, nạp đơn "xin tỵ nạn chính trị", sau 2 tuần lễ ông và vợ ông đi thăm 3 người con đang là "du học sinh" ở tiểu bang này.

Bốn ngày sau, qua trung gian của 1 "viên chức" cao cấp Hoa Kỳ, ông trao cho chủ bút Tạp Chí Foreign Policy Magazine một tập tài liệu "tối mật", có liên quan đến sự sống còn của nước Việt nam, dự trù sẽ đăng tải cuối năm 2013. Tập tài liệu này, do người anh vợ của ông, Thiếu Tướng H.T.T. làm Chính Ủy Tổng Cục 2, dưới thời Tổng Cục Trưởng Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, chép lại nguyên văn từ cuốn băng nhựa AKAI mang bí số ML887, ghi âm những cuộc họp bí mật của các nhà lãnh đạo Việt Nam: Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh và Trung Cộng:

Giang Trạch Dân (sinh năm 1926), Lý Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp Tuyển Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu... tại Thành Đô, thảo luận các thỏa hiệp sát nhập nước Việt Nam vào lãnh thổ "Trung Quốc". Chúng tôi (tác giả bài viết này), hiện làm "bỉnh bút" cho tờ Foreign Policy Magazine, nên được phổ biến bằng Việt ngữ, giới hạn, trong vòng thân hữu.

Thật ra, các cam kết "giao nước Việt Nam cho Trung Quốc", đã được "ký" bằng "lời hứa danh dự " của ông Hồ Chí Minh với 2 Đại Tướng Tàu Trần Canh và Vị Quốc Thanh, thay mặt cho Mao Trạch Đông vào năm 1926. Bốn năm sau, năm 1930, thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Hồ khẳng định một lần nữa với Tổng Lý Chu Ân Lai:"Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa..."

Vấn đề là trong tài liệu Thiếu tướng Hà Thanh Châu cung cấp có đoạn:

Ngày 10-08-1987, ông Nguyễn Văn Linh (đang mắc bệnh ung thư) bay qua Trùng Khánh gặp Hồ Diệu Bang (1915-1989), Đặng Tiểu Bình (1904-1992= thọ 92 tuổi) bàn luận về các kế hoạch cắt đất, cắt biên giới và phác họa rõ ràng hơn. 1 chương trình "sát nhập Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc" qua chiến thuật "Hòa Bình, hữu nghị, chầm chậm, êm ả, kín đáo, không ai có quyền biết đến" với thời gian 60 năm, phân ra làm 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 20 năm.

GIAI ĐOẠN I: Ngày 15-07-2020: QUỐC GIA TỰ TRỊ.
GIAI ĐOẠN II: Ngày 05-07-2040: QUỐC GIA THUỘC TRỊ.
GIAI ĐOẠN III: Ngày 05-07-2060: Tỉnh lỵ Âu Lạc.

Tỉnh trưởng vẫn là người Việt, đặt dưới quyền lãnh đạo của Tổng Đốc Quảng Châu”.



Thứ ba, Trung cộng đã cho thấy cộng sản bán nước cho họ nên Trung cộng đã ngang nhiên thực hiện các tuyên bố và hình ảnh cho thấy Việt Nam là một tỉnh của Trung cộng.

Trang mạng "Tiếng Hát Hữu Nghị" của CRI Đài phát thanh quốc tế Tàu cộng đăng bài viết "Khai mạc Đại hội Thể thao Truyền thống Dân tộc Thiểu số Trung Quốc lần thứ 9".


Theo trang tin tức của Trung Cộng “world.huanqiu.com” thì Nguyễn Chí Vịnh cũng cho rằng: “Việt Nam đã quyết định tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình Quốc tế, đã đề nghị Trung Quốc đến Việt Nam để tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình và giúp đỡ”.


Thế nào là cái gọi “Đề nghị Trung Quốc vào Việt nam tham gia gìn giữ hòa bình”? Đó chính là một tuyên bố: Rước voi về giày mả tổ của cộng sản Việt Nam!

Thậm chí Báo chí Bắc Kinh còn loan tải. "Chiến tranh ngoại giao Trung Quốc thắng lớn, chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc", "Đã thu phục một chư hầu đời nay chỉ cần 10 văn kiện hợp tác toàn diện".

Nguồn: Tân Hoa Xã.

Thứ tư, bán nước là chủ trương của cộng sản Việt Nam. Nhưng vấn đề là nó xuất phát từ đâu? Trong khuôn khổ bài viết này xin được trình bày rõ ràng nguồn gốc xuất phát của nó.

Như chúng ta đã biết công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là bề ngoài của vấn đề, nhưng có một thỏa ước khác của Hồ Chí Minh với Trung cộng mà chúng ta gần như không được biết đến từ năm 1953. Năm 1953 chính Hồ đã ký giao ước gửi Việt Nam cho Tàu. Giao ước của Hồ là lúc đó hồ chấp nhận Việt Nam là 1 quân khu ngang hàng với Quảng Châu. Thực chất là Hồ đã đích thân ký thỏa thuận giao Việt Nam dần dần bắt đầu từ HS-TS sau đó cả VN làm một bang của Trung cộng như dạng các nước nhỏ dưới thời Xô Viết nếu chiếm được toàn Việt Nam nhờ Trung cộng viện trợ quân, vũ khí... Thỏa thuận này ký năm 1953 tại Quảng Tây. Không ngạc nhiên sau đó 1958 thì giao HS-TS bằng công hàm PVĐ và tiếp sau...

Giao ước có tên “Ghi nhớ hợp tác Việt Trung” - số hiệu (VT/GU- 0212) ký ngày 12/06/1953 tại Quảng Tây giữa Hồ và Mao như sau:

“Trước tình hình quân đội thực dân Pháp đang củng cố xâm lược Việt Nam. Đảng cộng sản nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đảng Lao động Việt Nam dân chủ cộng hòa nhận thấy cần có sự tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau để giữ tình đoàn kết hai đảng, chính phủ và nhân dân hai nước như sau:

Điều 1: Chính phủ Trung Quốc sẽ đồng ý viện trợ vũ khí theo yêu cầu chi viện của quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra sẽ gửi các cố vấn, chuyên gia quân sự để giúp đỡ quân đội nhân dân Việt Nam.

Điều 2: Đảng Lao động do đồng chí Hồ Chí Minh lãnh đạo đồng ý sáp nhập đảng Lao Động Việt Nam là một bộ phận của đảng cộng sản Trung Quốc.

Điều 3: Hai bên thống nhất Việt Nam dân chủ cộng hòa là một bộ phận của cộng hòa nhân dân Trung Hoa với quy chế của một liên ban theo mô hình các quốc gia nằm trong Liên Bang Xô Viết (Phụ lục đính kèm).

Điều 4: Trước đảng và chính phủ hai nước cần tập trung đánh đuổi thực dân Pháp và giành lại chủ quyền lãnh thổ cho Việt Nam. Các bước tiếp theo của việc sáp nhập sẽ được chính thực thực thi kể từ ngày hôm nay 12/06/1953.

Điều 5: Chính phủ cộng hòa nhân dân Trung Hoa đồng ý cung cấp viện trợ kinh tế cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa theo thỏa thuận đã bàn giữa chủ tịch Mao Trạch Đông và chủ tịch Hồ Chí Minh (Phụ lục đính kèm).

….

Ký tên: Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông”

Vì một số lý do an ninh, tôi không in được bản in của thỏa ước tối mật bán nước của Hồ cho Trung cộng mà chỉ là phần ghi lại nội dung chính của bản thỏa ước đó. Bản in này sẽ được cung cấp trong thời gian gần nhất có thể.

Nhưng có một điều tôi xin lưu ý: Có lẽ Hồ bị Lê Duẩn giam giữ tại K9 không hẳn đã phải vì lý do tranh giành quyền lực mà vì công hàm Hồ ký bán nước năm 1953. Chúng ta phỉ biết Duẩn là 1 tên cộng sản độc tài nhưng không bao giờ tán thành việc sát nhập 2 nước VN-TQ của Hồ. Và cũng có lẽ vì giao ước sát nhập 2 nước năm 1953 do Hồ ký này mà cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn đang tiếp tục con đường bán nước...!

III. Kết luận:


Cộng sản Việt Nam đã bán nước toàn diện cho Trung Cộng xuất phát từ Hồ Chí Minh cho đến nay. Chính vì vậy những hành động bỏ mặc ngư dân, đàn áp biểu tình, cho người Tàu vào Việt Nam công khai không visa là điều quá sức dễ hiểu. Chúng ta cần phải cho người dân thấy điều này để chúng ta nhanh chóng đứng lên lật đổ đảng cộng sản nếu không muốn con cháu của chúng ta trở thành nô lệ cho Trung cộng.

Đất nước Việt Nam chúng ta đã trải qua 4000 năm văn hiến, chúng ta cũng đã có nhiều anh hùng như Trần Hưng Đạo, Quang Trung v.v... đã lãnh đạo dân tộc ta đánh đuổi ngoại xâm. Ngày nay băng đảng cộng sản Việt Nam chính là những Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc trong thời đại mới. Đó là một sự thật không thể chối bỏ rất đau xót mà chúng ta phải vượt qua! Hãy can đảm lên hỡi những người con Việt Nam! Tương lai phải thuộc về chúng ta, chính nghĩa thuộc về chúng ta!
 
6/11/2013

Wednesday, November 13, 2013

Những bài viết của ĐẶNG CHÍ HÙNG (Cập nhật 09-11)

Những bài viết của ĐẶNG CHÍ HÙNG (Cập nhật 09-11)


ĐẶNG CHÍ HÙNG, một tên tuổi không xa lạ gì đối với những ai còn tha thiết với tiền đồ của Tổ Quốc, còn có tinh thần đấu tranh dành NHÂN QUYỀN, TỰ DO, ĐỘC LẬP cho đồng bào VN . ĐCH là một người trẻ ở VN , là dòng dõi gia đình có cha ông là liệt sĩ, nhưng tôi chưa thấy ai chống cộng sáng suốt, hiểu biết, biết nói nhưng cũng biết làm và dám làm. Xin đọc thêm dưới đây, phần nói về ĐẶNG CHÍ HÙNG trích từ bài giãng của LM. Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh trong thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình, ngày 29.09.2013, tại DCCT Sài Gòn
Sự kiện Đặng Chí Hùng
Và sự kiện cuối cùng tôi muốn đề cập tới hôm nay là hơn 2 tuần sau ngày nghị định 72 của thủ tướng chính phủ có hiệu lực, nghị định nhằm “quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”, thì ngày 18-09-2013, trên diễn đàn Danlambao, người ta đọc thấy lá thư tác giả Đặng Chí Hùng “gửi bạn đọc thôn Danlambao”, Đặng Chí Hùng tuyên bố: “Tôi sẽ yêu quê hương bằng cả trái tim của mình và đi đến cùng con đường chân lý đem lại độc lập cho quê hương trước bạo quyền của cộng sản cho đến khi tôi không còn hơi thở nữa thì đành chịu”… “Bản thân tôi chưa bao giờ có liên hệ với Việt Nam Cộng Hoà…”, “Bản thân tôi chưa bao giờ là đảng viên mặc dù tôi đã có thời gian nắm chức vụ khá lớn trong tổ chức đoàn thanh niên cộng sản HCM. Tôi không vào đảng vì tôi đã nhận ra bộ mặt thật của nó từ khá sớm. Tôi đã chấp nhận bỏ lại sau lưng cơ ngơi, tương lai tươi sáng mà bao nhiêu người trẻ ở Việt Nam mong muốn để ẩn mình thực hiện công việc mà tôi cho là cần thiết cho dân tộc.”
Sau khi đã công bố loạt bài viết “Những sự thật không thể chối bỏ” gồm 18 phần liên quan đến nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh, tác giả cho biết đã bỏ ra 5 năm trời ròng rã để nghiên cứu, thu thập tài liệu và thực hiện công trình này. Tác giả còn nói là trong tương lai gần sẽ công bố “Những sự thật cần phải biết” liên quan đến các lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam. Hy vọng công trình của Đặng Chí Hùng sẽ soi sáng cho những ai, đặc biệt các bạn trẻ, muốn tìm hiểu sự thật về những con người có trách nhiệm đối với dân tộc Việt Nam từ 68 năm nay.
Ở tuổi ngoài 50, Đặng Chí Hùng vẫn là một người trẻ. Chỉ vì khát khao đi tìm sự thật, tâm can bị thiêu đốt bởi tình yêu đồng bào, yêu tổ quốc mà dám dấn thân vào một cuộc chiến vô cùng nguy hiểm cho bản thân cũng như gia đình, dám liều cả mạng sống, thì ngọn đuốc phi thường đó, không sức mạnh nào dập tắt được.
Hôm nay, với mục đích phổ biến những bài viết của Đặng Chí Hùng, Lê Thy xin làm một bảng gồm các links dẫn đến các bài viết ấy đã đăng trên DLB.
 
Đồng thời cũng xin giới thiệu đến quý độc giả nào muốn nghe ĐCH làm bình luận viên tin tức trong nước thì đón nghe trên đài Đáp Lời Sông Núi mục “Việt Nam Tuần Qua” mỗi Chủ Nhật và mục “Đây Là Sự Thật” mỗi thứ tư tại http://www.radiodlsn.com/
 
Trân trọng,
Lê Thy
Một Chút Tâm Tưthumb-up thumb-up
http://baovecovang2012.wordpress.com/2013/10/14/mot-chut-tam-tu-dang-chi-hung/
Thư Đặng Chí Hùng gửi bạn đọc thôn Danlambao
http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/09/thu-ang-chi-hung-gui-ban-oc-thon.html#.UmWpLPnIZcQ
Tôi gọi họ (VNCH) là Anh Hùng thumb-up thumb-up
http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/03/toi-goi-ho-la-anh-hung.html#.UmWqA_nIZcQ
Gửi bà Lê Phong Lan và đồng bọn!
http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/02/gui-ba-le-phong-lan-va-ong-bon.html#.UmWr8PnIZcQ
Những bài trong chương «NHỮNG BẢN CÁO TRẠNG TỘI ÁC CỦA ĐẢNG CSVN VÀ HỒ CHÍ MINH»
  1. Bản cáo trạng tội ác của đảng CSVN và Hồ Chí Minh (bài 1)
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/12/ban-cao-trang-toi-ac-cua-ang-cong-san.html#.Un7rNflLNcQ
  2. Bản cáo trạng tội ác của đảng CSVN và Hồ Chí Minh (bài 2)
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/02/ban-cao-trang-toi-ac-cua-ang-csvn-va.html#.Un7qBPlLNcQ
  3. Bản cáo trạng tội ác của đảng CSVN và Hồ Chí Minh (bài 3) : Bán đứng Cụ Phan Bội Châu
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/05/ban-cao-trang-toi-ac-cua-ang-csvn-va-ho.html#.Un7rZvlLNcQ
  4. Bản cáo trạng tội ác của đảng CSVN và Hồ Chí Minh (bài 4)
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/06/ban-cao-trang-toi-ac-cua-ang-csvn-va-ho_21.html#.Un7rFflLNcQ
  5. Bản cáo trạng tội ác của đảng CSVN và Hồ Chí Minh (bài 5)
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/07/ban-cao-trang-toi-ac-cua-ang-csvn-va-ho.html#.Un7qsPlLNcQ
Những bài trong chương «NHỮNG SỰ THẬT KHÔNG THỂ CHỐI BỎ»
  1. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 1)
    Sự thật thứ nhất: Bác đi tìm đường cứu nước hay cứu bác?
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-1.html#.UmWc-PnIZcQ
  2. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 2)
    Hồ Chí Minh và vai trò trong công hàm 1958
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-2-ho.html#.UmWdX_nIZcQ
  3. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 3)
    Bác, đảng đã bán những gì và để làm gì?
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-3-bac.html#.UmWdk_nIZcQ
  4. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 4)
    Bán nước trong thân phận kẻ chư hầu
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-4.html#.UmWd0fnIZcQ
  5. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 5)
    Nỗi đau Cải Cách
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-5-noi.html#.UmWd9vnIZcQ
  6. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 6)
    Dù đau đớn nhưng vẫn là sự thật!
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-6-du.html#.UmWeL_nIZcQ
  7. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 7)
    Trí thức cũng chẳng khá hơn
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-7-tri.html#.UmWeXvnIZcQ
  8. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 8)
    Ai đã bán đứng cụ Phan Bội Châu?
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/07/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-8-ai.html#.UmWeevnIZcQ
  9. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 9)
    Hồ Chí Minh và âm mưu Hán hóa toàn diện Việt Nam
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/07/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-9-ho.html#.UmWewvnIZcQ
  10. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 10)
    Triệt tiêu nội lực dân tộc
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/07/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-10.html#.UmWflfnIZcQ
  11. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 11)
    Lừa dối dân tộc!
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/07/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-11-lua.html#.UmWfPPnIZcQ
  12. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 12)
    Sự ngụy tạo về “Mùa Thu Độc Lập”
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-12-su.html#.UmWfZvnIZcQ
  13. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 13)
    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn!
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-13_9.html#.UmWfyPnIZcQ
  14. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 14)
    Ai làm cho Huế đau thương?
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-14-ai.html#.UmWf7PnIZcQ
  15. Những sự thật không thể chối bỏ (phần 15)
    Người chồng, người cha tồi tệ
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/09/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-15.html#.UmWgFfnIZcQ
Những bài trong chương «NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT»
  1. Những sự thật cần phải biết (1)
    Sự thật về “đại thắng mùa xuân 1975″
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/09/nhung-su-that-can-phai-biet-su-that-ve.html#.UmWksPnIZcQ
  2. Những sự thật cần phải biết (2)
    Việt Nam Cộng Hòa – Nạn nhân của chính sách “Ngậm máu phun người”
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/10/nhung-su-that-can-phai-biet-2-viet-nam.html#.UmWl6PnIZcQ
  3. Những sự thật cần phải biết (3)
    Nổi dậy hay khủng bố?
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/11/nhung-su-that-can-phai-biet-noi-day-hay.html#.UmWrZvnIZcQ
  4. Những sự thật cần phải biết: (4)
    “THỐNG NHẤT” : Xin đừng xảo ngôn!
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/12/nhung-su-that-can-phai-biet-thong-nhat.html#.UmWliPnIZcQ
  5. Những sự thật cần phải biết (Phần 5)
    Mất!
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/04/nhung-su-that-can-phai-biet-mat.html#.UmWmPPnIZcQ
  6. Những sự thật cần phải biết (phần 6)
    Lê Duẩn: Kẻ đồng mưu với Hồ Chí Minh tàn sát nhân dân Mậu Thân 1968
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/05/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-6-le.html#.UmWmaPnIZcQ
  7. Những sự thật cần phải biết (phần 7)
    Lê Duẩn và sự tàn ác với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/06/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-7-le.html#.UmWqe_nIZcQ
  8. Những sự thật cần phải biết (Phần 8)
    Lịch sử lá cờ của dân tộc
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/06/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-8-lich.html#.UmWmlfnIZcQ
  9. Những sự thật cần phải biết (Phần 9)
    Tinh thần dân tộc tiếp nối qua lá cờ
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/07/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-9-tinh.html#.UmWtr_nIZcQ
  10. Những sự thật cần phải biết (phần 10)
    Cộng sản Việt Nam: Trẻ em là một con bài trong chiến tranh
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/07/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-10.html#.UmWq0vnIZcQ
  11. Những sự thật cần phải biết (phần 11)
    Sinh Bắc tử Nam
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/07/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-11.html#.UmWlKfnIZcQ
  12. Những sự thật cần phải biết (phần 12)
    Tại sao không là lễ phục Dân Tộc?
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/07/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-12-tai.html#.UmWmyPnIZcQ
  13. Những sự thật cần phải biết (phần 13)
    Những kẻ cướp ngày
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/08/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-13.html#.UmWt9PnIZcQ
  14. Những sự thật cần phải biết (phần 14)
    Trường Chính – Kẻ vong bản
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/08/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-14.html#.UmWnKvnIZcQ
  15. Những sự thật cần phải biết (phần 15)
    Đàn áp và phỉ báng tôn giáo
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/08/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-15-ap.html#.UmWuNfnIZcR
  16. Những sự thật cần phải biết (phần 16)
    Võ Văn Kiệt: Kẻ ăn vụng biết chùi mép
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/08/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-16-vo.html#.UmWucvnIZcQ
  17. Những sự thật cần phải biết (phần 17)
    Ngu dân và mị dân để giữ đảng
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/08/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-17-ngu.html#.UmWke_nIZcQ
  18. Những sự thật cần phải biết (phần 18)
    Tội ác của Phạm Văn Đồng
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/08/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-18-toi.html#.UmWoNPnIZcQ
  19. Những sự thật cần phải biết (phần 19)
    Sự thật về Võ Nguyên Giáp
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/09/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-19-su.html#.UmWob_nIZcQ
  20. Những sự thật cần phải biết (phần 20)
    Nông Đức Mạnh – Tội ác của một đứa con rơi
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/09/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-20.html#.UmWnlvnIZcQ
  21. Những sự thật cần phải biết (phần 21)
    Song tướng “cướp” Trần Quốc Hoàn và Mai Chí Thọ
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/09/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-21.html#.UmWur_nIZcR
  22. Những sự thật cần phải biết (Phần 22)
    Tội đồ Lê Đức Thọ
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/09/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-22-toi.html#.UmWnYfnIZcQ
  23. Những sự thật cần phải biết (Phần 23)
    Phan Văn Khải – Từ bàn tay nhuốm máu đến bán nước
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/09/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-23.html#.UmWor_nIZcQ
  24. Những sự thật cần phải biết (phần 24)
    Tội bán nước và tham nhũng có tên Lê Khả Phiêu
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/10/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-24-toi.html#.UmWu7PnIZcQ
  25. Những sự thật cần phải biết – (Phần 25)
    Lê Đức Anh – Kẻ bán nước
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/10/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-25-le.html#.UmWvJfnIZcR
  26. Những sự thật cần phải biết (Phần 26)
    Đỗ Mười cộng sản
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/10/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-26-o.html#.UmWvovnIZcQ
  27. Những sự thật cần phải biết (Phần 27)new2
    Nguyễn Văn Linh – Một trong những ông trùm bán nước
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/10/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-27.html#.UnEbD_lLNcQ
  28. Những sự thật cần phải biết (Phần 28)new2
    Nguyễn Minh Triết : Anh Hề bán nước
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/10/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-27.html#.UnEbD_lLNcQ
Những bài trong chương «CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?»
  1. Chúng ta phải làm gì? (Kỳ 1)
    Thế nào là phản tỉnh?
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/08/chung-ta-phai-lam-gi-ky-1.html#.UmWwW_nIZcQ
  2. Chúng ta phải làm gì? (Kỳ 2)
    Việc trước mắt không phải là thêm đảng mới
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/08/chung-ta-phai-lam-gi-ky-2-viec-truoc.html#.UmWw1PnIZcQ
  3. Chúng ta phải làm gì? (Kỳ 3)
    Hoạt động nhóm và thông tin liên lạc
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/09/chung-ta-phai-lam-gi-ky-3-hoat-ong-nhom.html#.UmWxBfnIZcQ
  4. Chúng ta phải làm gì? (Kỳ 4)
    Tổ chức biểu tình
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/10/chung-ta-phai-lam-gi-ky-4-to-chuc-bieu.html#.UmWxMvnIZcQ
  5. Chúng ta phải làm gì? (kỳ 5)
    Phải có một liên minh
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/10/chung-ta-phai-lam-gi-ky-5-phai-co-mot.html#.UmmbsvnIZcQ
  6. Chúng ta phải làm gì? (kỳ 6)new2
    Sức ép công luận
    http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/11/chung-ta-phai-lam-gi-ky-6-suc-ep-cong.html#.Unw11PlLNcQ
(Còn tiếp. Sẽ cập nhật khi có bài mới)

Sunday, November 3, 2013

Luật Hiến pháp và Chính trị học (24, kì cuối)

Nguyễn Văn Bông – Luật Hiến pháp và Chính trị học (24, kì cuối)

Tháng 11 2, 2013
Xem kì 1, kì 2kì 3kì 4, kì 5, kì 6kì 7, kì 8, kì 9, kì 10, kì 11, 12, kì 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23
PHỤ BẢN 8: HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HÒA NGÀY 1-4-1967
LỜI MỞ ĐẦU
Tin tưởng rằng lòng ái quốc, chí quật cường, truyền thống đấu tranh của dân tộc bảo đảm trong tương lai huy hoàng của Đất nước.
Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy trách nhiệm trước lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể Cộng hòa của Dân, do Dân và vì Dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm độc lập, tự do, dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.
Chúng tôi, một trăm mười bảy (117) Dân biểu, Quốc hội Lập hiến, đại diện nhân dân Việt Nam, sau khi thảo luận, chấp thuận bản Hiến pháp sau đây:
CHƯƠNG I: ĐIỀU KHOẢN CĂN BẢN
ĐIỀU 1
1.- VIỆT NAM là một nước CỘNG HÒA, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
2.- Chủ quyền Quốc gia thuộc về toàn dân.
ĐIỀU 2
1.- Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của mọi công dân.
2.- Quốc gia chủ trương sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái. Đồng bào thiểu số được đặc biệt nâng đỡ để theo kịp đà tiến hóa chung của dân tộc.
3.- Mọi công dân đều có nghĩa vụ góp phần phục vụ quyền lợi Quốc gia dân tộc.
ĐIỀU 3
Ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản tự do, dân chủ và công bằng xã hội.
ĐIỀU 4
1.– VIỆT NAM CỘNG HÒA chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức.
2.– Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ.
ĐIỀU 5
1.- VIỆT NAM CỘNG HÒA chấp nhận các nguyên tắc quốc tế pháp không trái với chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
2.- VIỆT NAM CỘNG HÒA cương quyết chống lại mọi hình thức xâm lược và nỗ lực góp phần xây dựng nền an ninh và hòa bình thế giới.
CHƯƠNG II: QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CÔNG DÂN
ĐIỀU 6
1.- Quốc gia tôn trọng nhân phẩm.
2.- Luật pháp bảo vệ tự do, sinh mạng, tài sản và danh dự của mọi công dân.
ĐIỀU 7
1.- Quốc gia tôn trọng và bảo vệ quyền an toàn cá nhân và quyền biện hộ.
2.- Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ, nếu không có mệnh lệnh hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền luật định ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp.
3.- Bị can và thân nhân phải được thông báo tội trạng trong thời hạn luật định. Mọi sự câu lưu phải đặt dưới quyền kiểm soát của cơ quan tư pháp.
4.- Không ai có thể bị tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách thú tội.
Sự nhận tội vì tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách không được coi là bằng chứng buộc tội.
5.- Bị can phải được xét xử công khai và mau chóng.
6.- Bị can có quyền được luật sư biện hộ dự kiến trong mọi giai đoạn thẩm vấn kể cả trong cuộc điều tra sơ vấn.
7.- Bị can về các tội tiểu hình, chưa có tiền án quá ba (3) tháng tù về các tội phạm cố ý, có thể được tại ngoại hầu tra nếu có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn. Nữ bị can về các tội tiểu hình, có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn, có thể được tại ngoại hầu tra, nếu có thai trên ba (3) tháng.
8.- Bị can được suy đoán vô tội cho đến khi bản án xác nhận tội trạng trở thành nhất định. Sự nghi vấn có lợi cho bị can.
9.- Bị can bị bắt giữ oan ức, sau khi được tuyên bố vô tội, có quyền đòi Quốc gia bồi thường thiệt hại trong những điều kiện luật định.
10.- Không ai có thể bị câu thúc thân thể vì thiếu nợ.
ĐIỀU 8
1.- Đời tư, nhà cửa và thư tín của công dân phải được tôn trọng.
2.- Không ai được quyền xâm nhập, khám xét nơi cư trú và tịch thâu đồ vật của người dân, trừ khi có lệnh của tòa án hoặc khi cần bảo vệ an ninh và trật tự công cộng trong phạm vi luật định.
3.- Luật pháp bảo vệ tánh cách riêng tư của thư tín; những hạn chế, nếu có, phải do một đạo luật quy định.
ĐIỀU 9
1.- Quốc gia tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng; tự do truyền giáo và hành đạo của mọi công dân miễn là không xâm phạm đến quyền lợi Quốc gia, không phương hại đến an ninh, trật tự công cộng và không trái với thuần phong mỹ tục.
2.- Quốc gia không thừa nhận một tôn giáo nào là quốc giáo. Quốc gia vô tư đối với sự phát triển của các tôn giáo.
ĐIỀU 10
1.- Quốc gia công nhận quyền tự do giáo dục.
2.- Nền giáo dục cơ bản có tánh cách cưỡng bách và miễn phí.
3.- Nền giáo dục đại học được tự trị.
4.- Những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
5.- Quốc gia khuyến khích và nâng đỡ các công dân trong viện nghiên cứu và sáng tác về khoa học, văn học và nghệ thuật.
ĐIỀU 11
1.- Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.
2.- Một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục.
ĐIỀU 12
1.- Quốc gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục.
2.- Chế độ kiểm duyệt không được chấp nhận, ngoại trừ các bộ môn điện ảnh và kịch trường.
3.- Một đạo luật sẽ ấn định quy chế báo chí.
ĐIỀU 13
1.- Mọi công dân đều có quyền tự do hội họp và lập hội trong phạm vi luật định.
2.- Mọi công dân đều có quyền bầu cử, ứng cử và tham gia công vụ trên căn bản bình đẳng theo điều kiện và thể thức luật định.
3.- Quốc gia tôn trọng các quyền chính trị của mọi công dân kể cả quyền tự do thỉnh nguyện, quyền đối lập công khai bất bạo động và hợp pháp.
ĐIỀU 14
Mọi công dân đều có quyền tự do cư trú, đi lại, xuất ngoại và hồi hương ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do y tế, an ninh và quốc phòng.
ĐIỀU 15
1.- Mọi công dân đều có quyền, có bổn phận làm việc và được hưởng thù lao tương xứng để bảo đảm cho bản thân và gia đình, một đời sống hợp với nhân phẩm.
2.- Quốc gia nỗ lực tạo công việc làm cho mọi công dân.
ĐIỀU 16
Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được tôn trọng trong phạm vi và thể thức luật định.
ĐIỀU 17
1.- Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, săn sóc sản phụ và hài nhi.
2.- Hôn nhân được đặt căn bản trên sự ưng thuận, sự bình đẳng và sự hợp tác giữa vợ chồng.
3.- Quốc gia tán trợ sự thuần nhất gia đình.
ĐIỀU 18
1.- Quốc gia nỗ lực thiết lập chế độ an ninh xã hội.
2.- Quốc gia có nhiệm vụ thiết lập chế độ cứu trợ xã hội và y tế công cộng.
3.- Quốc gia có nhiệm vụ nâng đỡ đời sống tinh thần và vật chất của các chiến sỹ quốc gia, bảo trợ và dưỡng dục các quốc gia nghĩa tử.
ĐIỀU 19
1.- Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu.
2.- Quốc gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân.
3.- Sở hữu chủ các tài sản bị truất hữu hoặc trưng dụng vì lí do công ích phải được bồi thường nhanh chóng và thỏa đáng theo thời giá.
ĐIỀU 20
1.- Quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh được công nhận nhưng không được hành xử để nắm giữ độc quyền, độc chiếm hay thao túng thị trường.
2.- Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác kinh tế có tánh cách tương trợ.
3.- Quốc gia đặc biệt nâng đỡ những thành phần xã hội yếu kém về kinh tế.
ĐIỀU 21
Quốc gia chủ trương nâng cao đời sống nông dân và đặc biệt giúp đỡ nông dân có ruộng đất canh tác.
ĐIỀU 22
Trên nguyên tắc quân bình giữa nghĩa vụ và quyền lợi, công nhân có quyền cử đại biểu tham gia quản trị xí nghiệp đặc biệt về những vấn đề liên quan đến lương bổng và điều kiện làm việc trong phạm vi và thể thức luật định.
ĐIỀU 23
1.- Quân nhân đắc cử vào các chức vụ dân cử hay tham chánh tại cấp bậc trung ương phải được giải ngũ hay nghỉ dài hạn không lương, tùy theo sự lựa chọn của đương sự.
2.- Quân nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái.
ĐIỀU 24
1.- Quốc gia công nhận sự hiện hữu của các sắc tộc thiểu số trong cộng đồng Việt Nam.
2.- Quốc gia tôn trọng phong tục, tập quán của đồng bào thiểu số. Các Tòa án Phong tục phải được thiết lập để xét xử một số các vụ án phong tục giữa các đồng bào thiểu số.
3.- Một đạo luật sẽ quy định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào thiểu số.
ĐIỀU 25
Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc và chánh thể Cộng hòa.
ĐIỀU 26
Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Hiến pháp và tôn trọng luật pháp.
ĐIỀU 27
Mọi công dân đều có nghĩa vụ thi hành quân dịch theo luật định.
ĐIỀU 28
Mọi công dân đều có nghĩa vụ đóng thuế theo luật định.
ĐIỀU 29
Mọi sự hạn chế các quyền công dân căn bản phải được quy định bởi một đạo luật có ấn định rõ phạm vi áp dụng trong thời gian và không gian. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, tánh cách thiết yếu của các quyền công dân căn bản vẫn không được vi phạm.
CHƯƠNG III: LẬP PHÁP
ĐIỀU 30
Quyền Lập pháp được Quốc dân ủy nhiệm cho Quốc hội. Quốc hội gồm hai viện:
- Hạ Nghị viện
- Thượng Nghị viện
ĐIỀU 31
Hạ Nghị viện gồm từ một trăm (100) đến hai trăm (200) Dân biểu:
1.- Dân biểu được bầu theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín, theo thể thức đơn-danh, trong từng đơn vị lớn nhất là tỉnh.
2.- Nhiệm kì Dân biểu là bốn (4) năm, Dân biểu có thể được tái cử.
3.- Cuộc bầu cử tân Hạ Nghị viện sẽ được kết thúc chậm nhất là một (1) tháng trước khi pháp nhiệm cũ chấm dứt.
ĐIỀU 32
Được quyền ứng cử Dân biểu những công dân:
1.- Có Việt tịch từ khi mới sanh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất bảy (7) năm, hoặc đã thủ đắc hoặc hồi phục Việt tịch ít nhất năm (5) năm tính đến ngày bầu cử.
2.- Đủ hai mươi lăm (25) tuổi tính đến ngày bầu cử.
3.- Được hưởng các quyền công dân.
4.- Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch.
5.- Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Dân biểu.
ĐIỀU 33
Thượng Nghị viện gồm từ ba mươi (30) đến sáu mươi (60) Nghị sĩ.
1.- Nghị sĩ được cử tri toàn quốc bầu lên trong một cuộc phổ thông đầu phiếutrực tiếp và kín theo thể thức liên danh đa số. Mỗi liên danh gồm từ một phần sáu (1/6) đến một phần ba (1/3) tổng số Nghị sĩ.
2.- Nhiệm kì Nghị sĩ là sáu (6) năm, mỗi ba (3) năm bầu lại phân nửa (1/2). Nghị sĩ có thể tái cử.
3.- Các Nghị sĩ trong pháp nhiệm đầu tiên sẽ được chia làm hai (2) nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm. Nhóm thứ nhất có nhiệm kì sáu (6) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kì ba (3) năm.
4.- Cuộc bầu cử các tân Nghị sĩ phải được tổ chức chậm nhất là một (1) tháng trước khi phân nửa (1/2) tổng số Nghị sĩ chấm dứt pháp nhiệm.
ĐIỀU 34
Được quyền ứng cử Nghị sĩ những công dân đủ ba mươi (30) tuổi tính đến ngày bầu cử, hội đủ các điều kiện dự liệu trong đạo luật bầu cử Nghị sĩ và các điều kiện quy định ở điều 32.
ĐIỀU 35
1.- Trong trường hợp khống khuyết Dân biểu vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức trong hạn ba (3) tháng, nếu sự khống khuyết xẩy ra trên hai (2) năm trước ngày chấm dứt pháp nhiệm.
2.- Trong trường hợp khống khuyết Nghị sĩ vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức chung với cuộc bầu cử phân nửa (1/2) tổng số Nghị sĩ gần nhất.
ĐIỀU 36
Các thể thức và điều kiện ứng cử, bầu cử Dân biểu và Nghị sĩ kể cả Dân biểu đồng bào thiểu số, sẽ do những đạo luật quy định.
ĐIỀU 37
1.- Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu hay Nghị sĩ vì những sự phát biểu và biểu quyết tại Quốc hội.
2.- Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu hay Nghị sĩ, nếu không có sự chấp thuận của ba phần tư (3/4) tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ.
3.- Trong trường hợp quả tang phạm pháp, sự truy tố hay bắt giam sẽ được đình chỉ nếu có sự yêu cầu của Viện sở quan.
4.- Dân biểu và Nghị sĩ có quyền bảo mật về xuất xứ các tài liệu trình bày trước Quốc hội.
5.- Dân biểu và Nghị sĩ không thể kiêm nhiệm một chức vụ công cử hay dân cử nào khác.
6.- Dân biểu và Nghị sĩ có thể phụ trách giảng huấn tại các trường Đại học và Cao đẳng Kỹ thuật.
7.- Dân biểu, Nghị sĩ và người hôn phối không thể tham dự những cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền.
ĐIỀU 38
1.- Trong trường hợp can tội phản quốc hay các trọng tội khác, Dân biểu hay Nghị sĩ có thể bị Viện sở quan truất quyền.
2.- Sự truất quyền phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ đề nghị.
3.- Quyết nghị truất quyền phải được ba phần tư (3/4) tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ chấp thuận.
4.- Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truất quyền.
ĐIỀU 39
Quốc hội có thẩm quyền:
1.- Biểu quyết các đạo luật.
2.- Phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế.
3.- Quyết định việc tuyên chiến và nghị hòa.
4.- Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh.
5.- Kiểm soát Chính phủ trong việc thi hành chính sách Quốc gia.
6.- Trong phạm vi mỗi Viện, quyết định hợp thức hóa sự đắc cử của các Dân biểu hay Nghị sĩ.
ĐIỀU 40
1.- Mỗi Viện, với một phần ba (1/3) tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ, có quyền yêu cầu Thủ tướng hay các Nhân viên Chính phủ ra trước Viện sở quan để trả lời các câu chất vấn về sự thi hành chính sách Quốc gia.
2.- Chủ tịch Ủy ban của mỗi Viện có quyền yêu cầu các Nhân viên Chính phủ tham dự các phiên họp của Ủy ban để trình bày các vấn đề liên quan đến Bộ sở quan.
ĐIỀU 41
Thượng Nghị viện có quyền mở cuộc điều tra về sự thi hành chính sách Quốc gia và yêu cầu các cơ quan công quyền xuất trình các tài liệu cần thiết cho cuộc điều tra này.
ĐIỀU 42
1.- Quốc hội có quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể Chính phủ với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân biểu và Nghị sĩ.
2.- Nếu Tổng thống không có lí do đặc biệt để khước-từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu-lực.
3.- Trong trường hợp Tổng thống khước-từ, Quốc hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân biểu và Nghị sĩ. Sự khuyến cáo sau này của Quốc hội có hiệu-lực kể từ ngày chung quyết.
ĐIỀU 43
1.- Dân biểu và Nghị sĩ có quyền đề nghị các dự án luật.
2.- Tổng thống có quyền đề nghị các dự thảo luật.
3.- Các dự án luật và dự thảo luật, gọi chung là dự luật, phải được đệ nạp tại Văn phòng Hạ Nghị viện.
4.- Trong mọi trường hợp Hạ Nghị viện chấp thuận hoặc bác bỏ một dự luật, Viện này đều chuyển dự luật sang Văn phòng Thượng Nghị viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn.
5.- Nếu Thượng Nghị viện đồng quan điểm với Hạ Nghị viện, dự luật hoặc sẽ được chuyển sang Tổng thống để ban hành hoặc sẽ bị bác bỏ.
6.- Nếu Thượng Nghị viện không đồng quan điểm với Hạ Nghị viện, dự luật sẽ được gởi về Văn phòng Hạ Nghị viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn, kèm theo quyết nghị có viện dẫn lí do.
7.- Trong trường hợp sau này, Hạ Nghị viện có quyền chung quyết dự luật với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân biểu.
8.- Nếu Hạ Nghị viện không hội đủ đa số hai phần ba (2/3) nói trên, quan điểm của Thượng Nghị viện được coi là chung quyết.
9.- Thời gian thảo luận và biểu quyết một dự luật tại Thượng Nghị viện chỉ có thể bằng phân nửa (1/2) thời gian thảo luận và biểu quyết tại Hạ Nghị viện. Thời gian thảo luận và chung quyết một dự luật tại Hạ Nghị viện chỉ có thể gấp đôi thời gian thảo luận và biểu quyết tại Thượng Nghị viện.
ĐIỀU 44
1.- Các dự luật được Quốc hội chung quyết sẽ được chuyển sang Tổng thống trong thời hạn ba (3) ngày tròn.
2.- Thời gian ban hành là mười lăm (15) ngày tròn kể từ ngày Tổng thống tiếp nhận dự luật.
3.- Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội thẩm định, thời hạn ban hành là bảy (7) ngày tròn.
4.- Nếu Tổng thống không ban hành trong các thời hạn kể trên, dự luật đã được Quốc hội biểu quyết đương nhiên thành luật và sẽ được Chủ tịch Thượng Nghị viện ban hành.
ĐIỀU 45
1.- Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có quyền gởi thông điệp có viện dẫn lí do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản của dự luật.
2.- Trong trường hợp này, Quốc hội sẽ họp khoáng đại lưỡng viện để chung quyết dự luật với đa số quá bán tổng số Dân biểu và Nghị sĩ. Nếu Quốc hội chung quyết bác bỏ lời yêu cầu phúc nghị của Tổng thống, dự luật đương nhiên thành luật và được chuyển sang Tổng thống để ban hành.
ĐIỀU 46
1.- Dự thảo ngân sách được đệ nạp tại Văn phòng Hạ Nghị viện trước ngày ba mươi tháng chín (30-9)
2.- Dân biểu và Nghị sĩ có quyền đề nghị các khoản chi mới nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
3.- Hạ Nghị viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi tháng mười một (30-11) và chuyển bản văn đã được chấp thuận đến Văn phòng Thượng Nghị viện chậm nhất là ngày một tháng mười hai (1-12).
4.- Thượng Nghị viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi mốt tháng mười hai (31-12).
5.- Trong thời hạn nói trên, nếu Thượng Nghị viện yêu cầu Hạ Nghị viện phúc nghị một hay nhiều điều khoản trong dự thảo ngân sách, thủ tục quy định tại điều 43 phải được áp dụng. Trường hợp này, Tổng thống có quyền ký sắc luật cho thi hành từng phần ngân sách tương đương với một phần mười hai (1/12) ngân sách thuộc tài khóa trước, cho đến khi Hạ Nghị viện chung quyết xong dự thảo ngân sách.
ĐIỀU 47
1.- Mỗi Viện họp những khóa thường lệ và những khóa bất thường.
2.- Hàng năm mỗi Viện họp hai khóa thường lệ; một khóa họp bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, một khóa họp bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng mười dương lịch.
Mỗi khóa họp thường lệ không thể lâu quá chín mươi (90) ngày. Tuy nhiên Hạ Nghị viện có thể triển hạn khóa họp để chung quyết dự thảo ngân sách.
3.- Mỗi Viện có thể triệu tập các khóa họp bất thường khi có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc một phần ba (1/3) tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ.
Nếu khóa họp bất thường do Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp do Tổng thống ấn định.
ĐIỀU 48
1.- Quốc hội họp công khai trừ khi quá bán tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ hiện diện yêu cầu họp kín.
2.- Trong các phiên họp công khai, biên bản tường thuật toàn vẹn cuộc thảo luận và các tài liệu trình bày tại Quốc hội sẽ được đăng trên công báo.
ĐIỀU 49
1.- Mỗi Viện bầu Chủ tịch và các Nhân viên Văn phòng.
2.- Mỗi Viện thành lập các Ủy ban thường trực và các Ủy ban đặc biệt.
3.- Mỗi Viện trọn quyền ấn định Nội quy.
4.- Văn phòng hai Viện ấn định thủ tục liên lạc và sinh hoạt giữa hai Viện.
ĐIỀU 50
1.- Chủ tịch Thượng Nghị viện triệu tập và chủ tọa các phiên họp khoáng đại lưỡng viện.
2.- Trường hợp Chủ tịch Thượng Nghị viện bị ngăn trở, Chủ tịch Hạ Nghị viện sẽ thay thế Chủ tịch Thượng Nghị viện trong nhiệm vụ này.
CHƯƠNG IV: HÀNH PHÁP
ĐIỀU 51
Quyền Hành pháp được Quốc dân ủy nhiệm cho Tổng thống.
ĐIỀU 52
1.- Tổng thống và Phó Tổng thống cùng đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín.
2.- Nhiệm kì của Tổng thống và Phó Tổng thống là bốn (4) năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử một lần.
3.- Nhiệm kì của Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ bốn mươi tám (48) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kì của tân Tổng thống và tân Phó Tổng thống bắt đầu từ lúc ấy.
4.- Cuộc bầu cử tân Tổng thống và tân Phó Tổng thống được tổ chức vào ngày chúa nhật, bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kì của Tổng thống tại chức chấm dứt.
ĐIỀU 53
Được quyền ứng cử Tổng thống hoặc Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây :
1.- Có Việt tịch từ khi mới sanh ra và liên tục cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam ít nhất mười (10) năm tính đến ngày bầu cử.
Thời gian công cán và lưu vong chánh trị tại ngoại quốc được kể như thời gian cư ngụ tại nước nhà.
2.- Đủ ba mươi lăm (35) tuổi tính đến ngày bầu cử.
3.- Được hưởng các quyền công dân.
4.- Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch.
5.- Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống.
ĐIỀU 54
1- Tối cao Pháp viện lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức của cuộc bầu cử và tuyên bố kết quả.
2- Các ứng cử viên được hưởng đồng đều phương tiện trong cuộc vận động tuyển cử.
3- Một đạo luật sẽ quy định thể thức ứng cử và bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống.
ĐIỀU 55
Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ trước quốc dân với sự chứng kiến của Tối cao Pháp viện và Quốc hội : “Tôi long trọng tuyên thệ trước quốc dân sẽ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc và tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa”.
ĐIỀU 56
1.- Nhiệm kì của Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những trường hợp:
a. Mệnh chung.
b. Từ chức.
c. Bị truất quyền.
d. Bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân biểu và Nghị sĩ sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
2.- Trong trường hợp nhiệm vụ của Tổng thống chấm dứt trên một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng thống và tân Phó Tổng thống cho nhiệm kì mới.
3.- Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt dưới một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống đến hết nhiệm kì, ngoại trừ trường hợp Tổng thống bị truất quyền.
4.- Nếu vì một lí do gì, Phó Tổng thống không thể đảm nhiệm chức vụ Tổng thống, Chủ tịch Thượng Nghị viện sẽ đảm nhiệm chức vụ này trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng thống và tân Phó Tổng thống.
ĐIỀU 57
Tổng thống ban hành các đạo luật trong thời hạn quy định ở điều 44.
ĐIỀU 58
1.- Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng; theo đề nghị của Thủ tướng, Tổng thống bổ nhiệm các nhân viên Chính phủ.
2.- Tổng thống có quyền cải tổ toàn bộ hay một phần Chính phủ, hoặc tự ý, hoặc sau khi có khuyến cáo của Quốc hội.
ĐIỀU 59
1. Tổng thống bổ nhiệm với sự chấp thuận của Thượng Nghị viện:
a- Các Trưởng nhiệm sở ngoại giao.
b- Viện trưởng các Viện Đại học.
2.- Tổng thống thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao.
3.- Tổng thống ký kết và sau khi được Quốc hội phê chuẩn, ban hành các hiệp ước và hiệp định quốc tế.
ĐIỀU 60
Tổng thống là Tổng Tư lệnh Tối cao Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
ĐIỀU 61
1.- Tổng thống ban các loại huy chương.
2.- Tổng thống có quyền ân xá, và ân giảm hình phạt các phạm nhân.
ĐIỀU 62
1.- Tổng thống hoạch định chính sách Quốc gia.
2.- Tổng thống chủ tọa Hội đồng Tổng trưởng.
ĐIỀU 63
1.- Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp. Vào mỗi khóa họp thường lệ và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình-hình Quốc gia và chính sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
2.- Thủ tướng và các nhân viên Chính phủ có thể tham dự các phiên họp của Quốc hội hoặc của các Ủy ban để trình bày và giải thích về các vấn đề liên quan đến chính sách Quốc gia và sự thi hành chính sách Quốc gia.
ĐIỀU 64
1.- Trong các trường hợp đặc biệt Tổng thống có thể ký sắc luật tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay toàn lãnh thổ.
2.- Quốc hội phải được triệu tập chậm nhất mười hai (12) ngày kể từ ngày ban hành sắc luật để phê chuẩn, sửa đổi, hoặc bãi bỏ.
3.- Trong trường hợp Quốc hội bãi bỏ hoặc sửa đổi sắc luật của Tổng thống, các tình trạng đặc biệt đã được ban hành sẽ chấm dứt hoặc thay đổi hiệu lực.
ĐIỀU 65
Trong tình trạng chiến tranh không thể tổ chức bầu cử được, với sự chấp thuận của hai phần ba (2/3) tổng số Dân biểu và Nghị sĩ, Tổng thống có quyền lưu nhiệm một số các cơ quan dân cử và bổ nhiệm một số Tỉnh trưởng.
ĐIỀU 66
1.- Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Văn hóa Giáo dục, Hội đồng Kinh tế Xã hội và Hội đồng các Sắc tộc Thiểu số.
2.- Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào trong Chính phủ.
ĐIỀU 67
1.- Thủ tướng điều khiển Chính phủ và các cơ cấu hành chánh Quốc gia.
2.- Thủ tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chính sách Quốc gia trước Tổng thống.
ĐIỀU 68
1.- Tổng thống, Phó Tổng thống và các nhân viên Chính phủ không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào thuộc lãnh vực tư, dù có thù lao hay không.
2.- Trong mọi trường hợp, người hôn phối của các vị này không được tham dự các cuộc đấu thầu hoặc kết ước với các cơ quan công quyền.
ĐIỀU 69
1.- Hội đồng An ninh Quốc gia có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng.
- Đề nghị các biện pháp thích ứng để duy trì an ninh Quốc gia.
- Đề nghị tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm, khẩn trương hoặc chiến tranh.
- Đề nghị tuyên chiến hay nghị hòa.
2.- Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia.
3.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng An ninh Quốc gia.
ĐIỀU 70
1.- Nguyên tắc địa phương phân quyền được công nhận cho các tập thể địa phương có tư cách pháp nhân như: Xã, Tỉnh, Thị xã và Thủ đô.
2.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành nền hành chánh địa phương.
ĐIỀU 71
1.- Các cơ quan quyết nghị và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành các tập thể địa phương phân quyền sẽ do cử tri bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín.
2.- Riêng ở cấp Xã, Xã trưởng có thể do Hội đồng Xã bầu lên trong số các hội viên Hội đồng Xã.
ĐIỀU 72
Các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền là:
- Xã trưởng ở cấp Xã.
- Tỉnh trưởng ở cấp Tỉnh.
- Thị trưởng ở cấp Thị xã.
-  Đô trưởng ở Thủ đô.
ĐIỀU 73
Các cơ quan quyết nghị của các tập thể địa phương phân quyền là:
- Hội đồng Xã ở cấp Xã.
- Hội đồng Tỉnh ở cấp Tỉnh.
- Hội đồng Thị xã ở cấp Thị xã.
- Hội đồng Đô thành ở Thủ đô.
ĐIỀU 74
Chính phủ bổ nhiệm bên cạnh các Đô trưởng, Thị trưởng, Tỉnh trưởng, Xã trưởng hai (2) viên chức có nhiệm vụ phụ tá về hành chánh và an ninh cùng các nhân viên hành chánh khác.
ĐIỀU 75
Nhân viên các cơ quan quyết nghị và các Vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền có thể bị Tổng thống giải nhiệm trong trường hợp vi phạm Hiến pháp, luật pháp Quốc gia hay chính sách Quốc gia.
CHƯƠNG V: TƯ PHÁP
ĐIỀU 76
1.- Quyền Tư pháp độc lập, được ủy nhiệm cho Tối cao Pháp viện và được hành xử bởi các Thẩm phán xử án.
2.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành ngành tư pháp.
ĐIỀU 77
Mọi Tòa án đều phải do một đạo luật thiết lập với một thành phần Thẩm phán xử án và Thẩm phán công tố chuyên nghiệp và theo một thủ tục tôn trọng quyền biện hộ.
ĐIỀU 78
1.- Thẩm phán xử án và Thẩm phán công tố được phân nhiệm rõ rệt và có quy chế riêng biệt.
2.- Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm và pháp luật dưới sự kiểm soát của Tối cao Pháp viện.
3.- Thẩm phán công tố theo dõi sự áp dụng luật pháp để bảo vệ trật tự công cộng dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp.
ĐIỀU 79
Thẩm phán xử án chỉ có thể bị giải nhiệm trong trường hợp bị kết án, vi phạm kỉ luật hay bất lực về tinh thần hoặc thể chất.
ĐIỀU 80
1.- Tối cao Pháp viện gồm từ chín (9) đến mười lăm (15) Thẩm phán Tối cao Pháp viện Do Quốc hội tuyển chọn và Tổng thống bổ nhiệm theo một danh sách ba mươi (30) người do Thẩm phán đoàn, Công tố đoàn và Luật sư đoàn bầu lên.
2.- Thẩm phán Tối cao Pháp viện phải là những Thẩm phán hay luật sư đã hành nghề ít nhất mười (10) năm trong ngành tư pháp.
3.- Nhiệm kì của Thẩm phán Tối cao Pháp viện là sáu (6) năm.
4.- Thành phần cử tri thuộc Thẩm phán đoàn, Công tố đoàn và Luật sư đoàn phải đồng đều.
5.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Tối cao Pháp viện.
ĐIỀU 81
1.- Tối cao Pháp viện có Thẩm quyền giải thích Hiến pháp, phán quyết về tách cách hợp hiến hay bất hợp hiến của các đạo luật, sắc luật; tách cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh.
2.- Tối cao Pháp viện có thẩm quyền phán quyết về việc giải tán một chánh đảng có chủ trương và hành động chống lại chánh thể Cộng hòa.
3.- Trong những trường hợp này, Tối cao Pháp viện sẽ họp khoáng đại toàn Viện, các đại diện Lập pháp hoặc Hành pháp có thể tham dự để trình bày quan điểm.
4.- Những quyết định của Tối cao Pháp viện tuyên bố một đạo luật bất hợp hiến hoặc giải tán một chánh đảng phải hội đủ đa số ba phần tư (3/4) tổng số Thẩm phán Tối cao Pháp viện.
ĐIỀU 82
Tối cao Pháp viện có thẩm quyền phán quyết về các vụ thượng tố các bản án chung thẩm.
ĐIỀU 83
Tối cao Pháp viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để quản trị ngành tư pháp.
ĐIỀU 84
1.- Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ:
-  Đề nghị bổ nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển và chế tài về kỉ luật các thẩm phán xử án.
-  Cố vấn Tối cao Pháp viện về các vấn đề liên quan đến ngành tư pháp.
2.- Hội đồng Thẩm phán gồm các Thẩm phán xử án do các Thẩm phán xử án bầu lên.
3.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng Thẩm phán.
CHƯƠNG VI: CÁC ĐỊNH CHẾ ĐẶC BIỆT
Đặc biệt Pháp viện
ĐIỀU 85
Đặc biệt Pháp viện có thẩm quyền truất quyền Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, các Tổng Bộ trưởng, các Thẩm phán Tối cao Pháp viện và các Giám sát viên trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác.
ĐIỀU 86
1.- Đặc biệt Pháp viện do Chủ tịch Tối cao Pháp viện giữ chức Chánh thẩm và gồm năm (5) Dân biểu và năm (5) Nghị sĩ.
2.- Khi Chủ tịch Tối cao Pháp viện là bị can, Chủ tịch Thượng Nghị viện giữ chức Chánh thẩm.
ĐIỀU 87
1.- Đề nghị khởi tố có viện dẫn lí do phải được quá bán tổng số Dân biểu và Nghị sĩ ký tên. Quyết định khởi tố phải được đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân biểu và Nghị sĩ biểu quyết chấp thuận.
Riêng đối với Tổng thống và Phó Tổng thống đề nghị khởi tố có viện dẫn lí do phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân biểu và Nghị sĩ ký tên.
Quyết nghị khởi tố phải được đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân biểu và Nghị sĩ biểu quyết chấp thuận.
2.- Đương sự phải đình chỉ nhiệm vụ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tố đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết.
3.- Đặc biệt Pháp viện phán quyết truất quyền theo đa số ba phần tư (3/4) tổng số Nhân viên. Riêng đối với Tổng thống và Phó Tổng thống, phán quyết truất quyền theo đa số bốn phần năm (4/5) tổng số Nhân viên.
4.- Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truy tố.
5.- Sau khi bị truất quyền, đương sự có thể bị truy tố trước các Tòa án có thẩm quyền.
6.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức, điều hành và thủ tục trước Đặc biệt Pháp viện.
Giám sát Viện
ĐIỀU 88
Giám sát Viện có thẩm quyền:
1-Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi Quốc gia.
2- Thẩm tra kế toán đối với các cơ quan công quyền và hợp doanh.
3- Kiểm kê tài sản các nhân viên các cơ quan công quyền kể cả Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Dân biểu, Nghị sĩ, Chủ tịch Tối cao Pháp viện.
4- Riêng đối với Chủ tịch Giám sát Viện và các giám sát viên, việc kiểm kê tài sản do Tối cao Pháp viện đảm trách.
ĐIỀU 89
1.- Giám sát Viện có quyền đề nghị các biện pháp chế tài về kỉ luật đối với nhân viên phạm lỗi hoặc yêu cầu truy tố đương sự ra trước Tòa án có thẩm quyền.
2.- Giám sát Viện có quyền công bố kết quả cuộc điều tra.
ĐIỀU 90
1.- Giám sát Viện gồm từ chín (9) đến mười tám (18) giám sát viên, một phần ba (1/3) do Quốc hội, một phần ba (1/3) do Tổng thống và một phần ba (1/3) do Tối cao Pháp viện chỉ định.
2.- Giám sát viên được hưởng những quyền hạn và bảo đảm cần thiết để thi hành nhiệm vụ.
ĐIỀU 91
Giám sát Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để tổ chức nội bộ và quản trị ngành giám sát.
Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Giám sát Viện.
Hội đồng quân lực
ĐIỀU 92
1.- Hội đồng Quân lực cố vấn Tổng thống về các vấn đề liên quan đến quân lực, đặc biệt là việc thăng thưởng, thuyên chuyển và trừng phạt quân nhân các cấp.
2.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng Quân lực.
Hội đồng Văn hóa Giáo dục
ĐIỀU 93
1.- Hội đồng Văn hóa Giáo dục có nhiệm vụ cố vấn Chính phủ soạn thảo và thực thi chính sách văn hóa giáo dục.
Một Hàn lâm Viện Quốc gia sẽ được thành lập.
2.- Với sự chấp thuận của Quốc hội, Hội đồng Văn hóa Giáo dục có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc hội về các vấn đề liên hệ.
3.- Các dự luật liên quan đến văn hóa giáo dục có thể được Hội đồng tham gia ý kiến trước khi Quốc hội thảo luận.
ĐIỀU 94
1.- Hội đồng Văn hóa Giáo dục gồm:
- Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng thống chỉ định.
- Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức văn hóa giáo dục công và tư, các hiệp hội phụ huynh học sinh đề cử.
2.- Nhiệm kì của Hội đồng Văn hóa Giáo dục là bốn (4) năm.
3.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng Văn hóa Giáo dục.
Hội đồng Kinh tế Xã hội
ĐIỀU 95
1.- Hội đồng Kinh tế Xã hội có nhiệm vụ cố vấn Chính phủ về những vấn đề kinh tế và xã hội.
2.- Với sự chấp thuận của Quốc hội, Hội đồng Kinh tế Xã hội có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc hội về các vấn đề liên hệ.
3.- Các dự luật kinh tế và xã hội có thể được Hội đồng Kinh tế Xã hội tham gia ý kiến trước khi Quốc hội thảo luận.
ĐIỀU 96
1.- Hội đồng Kinh tế Xã hội gồm:
-  Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng thống chỉ định.
-  Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức công kỹ-nghệ, thương mại, nghiệp đoàn, các hiệp hội có tách cách kinh tế và xã hội đề cử.
2.- Nhiệm kì của Hội đồng Kinh tế Xã hội là bốn (4) năm.
3.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng Kinh tế Xã hội.
Hội đồng các Sắc tộc
ĐIỀU 97
1.- Hội đồng các Sắc tộc có nhiệm vụ cố vấn Chính phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào thiểu số.
2.- Với sự chấp thuận của Quốc hội, Hội đồng các Sắc tộc có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc hội về các vấn đề liên hệ.
3.- Các dự luật liên quan đến Đồng bào Thiểu số có thể được Hội đồng các Sắc tộc tham gia ý kiến trước khi đưa ra Quốc hội thảo luận.
ĐIỀU 98
1.- Hội đồng các Sắc tộc gồm có:
-  Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng thống chỉ định.
-  Hai phần ba (2/3) hội viên do các sắc tộc thiểu số đề cử.
2.- Nhiệm kì của Hội đồng các sắc tộc là bốn (4) năm.
3.- Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng các Sắc tộc.
CHƯƠNG VII: CHÁNH ĐẢNG VÀ ĐỐI LẬP
ĐIỀU 99
1.- Quốc gia công nhận chánh đảng giữ vai trò thiết yếu trong chế độ dân chủ.
2.- Chánh đảng được tự do thành lập và hoạt động theo các thể thức và điều kiện luật định.
ĐIỀU 100
Quốc gia khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng.
ĐIỀU 101
Quốc gia công nhận sự định chế hóa đối lập chính trị.
ĐIỀU 102
Một đạo luật sẽ ấn định quy chế chánh đảng và đối lập chính trị.
CHƯƠNG VIII: TU CHÍNH HIẾN PHÁP
ĐIỀU 103
1.- Tổng thống, quá bán tổng số Dân biểu hay quá bán tổng số Nghị sĩ có quyền đề nghị tu chính Hiến pháp.
2.- Đề nghị phải viện dẫn lí do và được đệ nạp tại Văn phòng Thượng Nghị viện.
ĐIỀU 104
Một Ủy ban lưỡng viện sẽ được thành lập để nghiên cứu về đề nghị tu chính Hiến pháp và thuyết trình trong những phiên họp khoáng đại lưỡng viện.
ĐIỀU 105
Quyết nghị tu chính Hiến pháp phải hội đủ hai phần ba (2/3) tổng số Dân biểu và Nghị sĩ.
ĐIỀU 106
Tổng thống ban hành đạo luật tu chính Hiến pháp theo thủ tục quy định ở điều 44.
ĐIỀU 107
Không thể hủy bỏ hoặc tu chính điều một (1) và điều này của Hiến pháp.
CHƯƠNG XI: ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP
ĐIỀU 108
Hiến pháp bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày ban hành và Ước pháp Tạm thời ngày mười chín tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm (19-6-1965) đương nhiên hết hiệu lực.
ĐIỀU 109
Trong thời gian chuyển tiếp Quốc hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm (11-9-1965), đại diện Quốc dân, trong phạm vi lập pháp:
1.- Soạn thảo và chung quyết:
- Các đạo luật bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống, Thượng Nghị viện và Hạ Nghị viện.
- Các đạo luật tổ chức Tối cao Pháp viện.
- Các quy chế chánh đảng và báo chí.
2.- Phê chuẩn các Hiệp ước.
ĐIỀU 110
Kể từ khi Tổng thống và Phó Tổng thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức, Quốc hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11-9-1966) đảm nhiệm quyền Lập pháp cho đến khi Quốc hội pháp nhiệm một (1) được triệu tập.
ĐIỀU 111
Trong thời gian chuyển tiếp Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và Ủy ban Hành pháp Trung ương lưu nhiệm cho đến khi Tổng thống và Phó Tổng thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức.
ĐIỀU 112
Trong thời gian chuyển tiếp, các Tòa án hiện hành vẫn tiếp tục hành xử quyền tư pháp cho đến khi các định chế tư pháp quy định trong Hiến pháp này được thành lập.
ĐIỀU 113
Quốc hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11-9-1966) sẽ lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tách cách hợp thức và tuyên bố kết quả bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống nhiệm kì một (1).
ĐIỀU 114
Trong nhiệm kì đầu tiên Tổng thống có thể bổ nhiệm các Tỉnh trưởng.
ĐIỀU 115
Cuộc bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống phải được tổ chức chậm nhất sáu (6) tháng kể từ ngày ban hành Hiến pháp này.
ĐIỀU 116
Cuộc bầu cử Quốc hội Lập pháp; việc tổ chức Tối cao Pháp viện và Giám sát Viện phải được thực hiện chậm nhất là mười hai (12) tháng kể từ ngày Tổng thống nhiệm kì một (1) nhậm chức.
ĐIỀU 117
Các cơ cấu khác do Hiến pháp quy định phải được thiết lập chậm nhất là hai (2) năm kể từ ngày Quốc hội pháp nhiệm một (1) được thành lập.
Bản văn Hiến Pháp này đã được Quốc hội chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng ba năm 1967. (*)
Sài Gòn, ngày 18 tháng 3 năm 1967
Chủ tịch Quốc hội Lập hiến
PHAN KHẮC SỬU
Chủ tịch Ủy ban Thảo hiến
ĐINH THÀNH CHÂU
_____________
(*)  Do sách bị mất trang, từ Điều 53 đến Điều 55 và toàn bộ đoạn văn từ dấu (*) trở xuống được đánh máy dựa theo nguồn Wikipedia tiếng Việt vào lúc 10:24 PM 12/07/2013.
- HẾT -
Nguồn: Nguyễn Văn Bông, Luật Hiến pháp và Chính trị học. In lần thứ hai. Sài Gòn 1969. Bản điện tử do pro&contra thực hiện.