Saturday, July 17, 2010

Văn tế bọn nằm vùng

VĂN TẾ CÁC NHÀ VĂN NHÀ BÁO NẰM VÙNG CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

Văn Tế "Đám Thượng Tá" Nằm Vùng


Than ôi! Trời Âu, Úc vận qua Mỹ Quốc, nhờ ơn bác đảng mới được tên tuổi ngày nay. Nhớ linh xưa, lùng kiếm khắp kim cổ đông tây tên tuổi ấy đố có ma nào mà biết.


Nước Hồng Hà chảy xiết, vịnh Hạ Long thương tiếc ngọn nghành, nhớ lúc lang thang từ thuở mới sanh, Hà Nội, Nam Định rồi trôi dạt vào Xoài Rạp, Long Xuyên dốc lòng theo gót cha ông phục tùng cách mạng cho trọn tình nhà, nợ nước.

Xót thay! Tình dưới thanh mao, phận trong chướng vật. Sau bảy lăm họp bầy đoàn thê tử, được phân công mai phục nằm vùng; trước bảy lăm đội lớp ký giả, văn sĩ chui sâu, quyết trốn lính cho tròn ơn kháng chiến.

Dấn thân cho đảng, son sắt một lòng; nối nghĩa cùng thầy, tuyết sơn mấy độ.

Tiếng súng vừa êm, nhờ xảo trá gian manh đảng đã giành thắng lợi. Vẫn biết niềm tin dân chúng là cái gốc rễ sâu bền, nay niềm tin của dân đối với đảng quá chông chênh nên mặt trận đánh bóng tuyên truyền lừa bịp dư luận trong ngoài, đảng phải chọn là mục tiêu hàng đầu, mũi nhọn.

Trong nước, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, chính trị phải quốc doanh, kẻ cầm trịch phải có nòi đảng tịch. Ngoài nước, muốn khống chế đám việt kiều yêu quái cho hướng về quốc tổ quê cha, báo chí yêu ma, kẻ tận trung, đảng phải sắp đặt sao cho màn kịch chính trị vẫn là thống soái .

Đảng ta nay ở thế, xiêu xiêu trên dốc, chỉ cần một cơn gió lốc là đảng sẽ tan tành, mau chuyển hướng đấu tranh, cài trận thế văn chương, tuyên truyền láo khoét cho hướng gió thổi tốc về Hải Ngoại .

Kịp thời theo đám người cơ hội chạy sang miền khách địa, hăm hở mài nanh giũa vút, chỉ Miền Nam thề chẳng đội trời chung; dẫu đúng sai cứ đánh phá lung tung, du kích chiến cầm chưng, khiến giặc Ngụy không biết đường mà đỡ.

Dùng văn nô công an-bộ đội, ấn bản phát hành trong nước, chưởi Mỹ Ngụy là xưa; nay truyền thông đã sẵn, internet dễ dàng, chuyển bài vở, tài liệu, thông tin dùng kẻ nằm vùng giả địch bêu xấu địch mới đúng là sáng tạo.

Bài vở đã có người đúc sẵn, chỉ cần cắt ráp, nối đoạn này qua đoạn nọ cho hợp chủ đề cách mạng, bôi lem luốc bộ mặt quốc gia, phô trương chính nghĩa việt cọng gian tà, quyết đánh trúng tim đen óc tò mò giới trẻ.

Văn thì đã có các đồng chí văn nô ngồi đây viết sẵn. Được hổ trợ hơn 700 tờ báo cùng cất nhịp, mớm tin thổi kẻ dốt cho mau thành văn hào, học sĩ. Nguồn tài liệu dồi dào vô tận bỡi hàng khối cán bộ nghiên cứu ngồi dính đít lãnh lương, nghìn người góp nhặt vẫn nhiều hơn một người ra sức; nhờ ơn phúc đức chỉ cần hạ bút ký tên, biến kẻ thiến heo cũng thành học giả thông kim quán cổ.

Văn chương là lựu đạn, bút mực súng AK, đánh cho đám nội ngoại căm thù cọng sản tan ra thành cám nhỏ. Dùng luật pháp phưong Tây ghép chúng bằng trò hề khủng bố, cầm chân mấy tên lố nhố cho mút chỉ trong chốn lao tù. Bao vây, phân tán chúng ra tứ phía trước sau, không để chúng có cơ hội tập hợp lại cùng nhau, thế bị động làm sao gây sóng gió.

Trong nước đánh bằng còng 88, ngoài nước đánh phủ đầu bằng mặt trận truyền thông, sau tiến lên kết hợp tây đông gom lũ dân hải ngoại thành bầy tôi tớ mới. Dụ cho chúng rán chuyển tiền về nước cho quan cho đảng mặc sức làm giàu. Dùng sức địch, bao vây, diệt địch; địch mới trúng đòn đau: đúng bài bản của Binh Thơ Mao Chủ Tịch.

Dụ chúng bằng thơ cho mùi cho ướt: - Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày, nay nằm trong tay quỉ dữ, con đừng cao chạy xa bay. Hễ con chạy đến đâu đảng cũng sẽ quyết theo nắm đầu con đến đó.

Trong quốc nội, rải truyền đơn chống đối bắt đặng thì cùm đầu, giăng biểu ngữ đấu tranh cho đi tù không có ngày ra khám, dùng vũ khí giết công an thì đưa ra xử trảm còn ma nào dám chống lại đảng ta. Nếu chúng còn dám kêu la, giả dạng dân oan kêu khóc thiết tha cứ cho xã hội đen lẫn công an đem cứt tiểu vung vãi đầy nhà, còn chưởi nữa mần thịt chúng phơi khô đem về làm mồi nhậu.

Ngoài hải ngoại tìm cho được những nhà văn chiến đấu, chuyên chưởi mờ cả nhật nguyệt càn khôn, mau lập website cho chúng đứng tên hề, phí domain đã có đảng chi tiền, báo đài đảng phải đưa lên trang nhất, cờ ba que treo chi thêm chật, quăng xuống hầm cầu tiểu là xong.

Lãnh tụ Miền Nam là đám đi đong, thất thế già nua, như cua gãy càng, mặc sức chưởi đừng chừa ra một móng. Thiệu Kỳ Khiêm Quang quyết đập nát thành than, đưa bọn Ngụy phải trở về gốc Ngụy.

Đối phó giặc thầy chùa, cho công an xuống tóc giả chơn tu, hình lõa thể treo to ngay Chánh Điện. La to lên cho thiên hạ biết: - Đây chính là một đám hổ mang sư.

Truy bức giặc áo đen, đem an ninh bịt mồm bịt miệng nạn nhân trước vành móng ngựa. Bố cáo cùng bốn biển năm châu: - Đưa phản động ra trước tòa công lý.

Ai xưng giỏi lên đây tỉ thí, lôi đài đã có đám Văn Nô. Bút dẫu cùn, mực dẫu cạn nhưng sức lực vẫn còn thâm, chưởi cho địch thủ khiếp oai, sau lưng có bác đảng hà hơi tiếp sức.

Cùng Việt cộng nằm gai nếm mật, chung nỗi ân ưu; diệt cho hết đám Ngụy quân, trí tâm lao khổ. Phận dù chưa viết lách bằng ai; nhưng vẫn xưng là học giả thông kim, nhà văn quán cổ.

Trước cùng bọn Phạm Xuân Ẩn, Lý Quí Chung tụ tập vùng Nguyễn Huệ, Tự Do đội lớp lượm tin xe cán chó, phóng sự nhựt trình nhưng thực kiếm xu bằng nịnh hót. Sau theo đám Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ ra tuồng ra vẻ quân sư quốc sự chính chị, chính em nhưng thực chất là kẻ luồn trôn, làm người dưới háng.

Phận làm đầy tớ, ngẫm lại cũng cơ duyên; phường xảo trá thường xưng mình là tiến sĩ, kỹ sư tên tuổi luôn có bằng cấp cao treo trước.

Quốc Dân Đảng, Đại Việt chui sâu tận Trung Ương, quyết diệt cho hết cháu con Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh cho thõa lòng mong ước. Văn Bút Hải Ngoại trèo cao làm Chủ Tịch phá tan hàng đám thợ viết lăng nhăng, viết dở viết dai, viết cuội viết trăng, khi hết chuyện, quay sang là chưởi cọng.

Hồn bồi bút biết đâu miền minh mạc, mịt mù gió lốc, thổi dấu tha hương; mặt chai lì khôn vẽ nét lưu manh, lập lòe nửa đỏ nửa xanh, múa bút tuồng ra vẻ ta đây cũng là học giả, nhà văn hầu đánh lừa người nhẹ dạ.

Ôi! Cùng lòng trung nghĩa, khác số đoản tu, ngoài thằng Hồ, thằng Đặng, thằng Phạm, thằng Lê, giòng giống Việt lại thêm lắm thằng quỉ đỏ.

Đoái là đảng biết công lao dường ấy, nhưng miếng chanh đã thành hôi thúi đảng phải đành phải vứt bỏ cho xong; những là khen con đĩ thập thành, lộ nguyên hình là đám Việt gian cọng sản bán nước nằm vùng mà còn dám ngang nhiên hăm he người nọ, kẻ kia; bị lật tẩy là những tên phản quốc, giả trá văn chương còn dám lên cẳng lên chân, dở thói lên gân, du côn chợ Cầu Ông Lãnh.

Tài viết lách ở nơi hải ngoại khỏi cần phải nói, chỉ cần gào thét chưởi cọng cho nhiều thì được danh là quân tử kiếm. Đảng rất mừng, đây là cơ hội hiếm, càng chưởi càng mắc mưu chia rẽ của đảng ta. Nghị quyết đã dặn rằng phải dấy lên phong trào chưởi cho hăng, quậy cho bùn non văng tứ phía; người tử tế sẽ co vò rụt cẳng, chẳng còn thiết đâu nghĩ tới chuyện dựng nghĩa cờ vàng; kẻ vô tâm chỉ ra sức kiếm tiền chẳng hơi đâu mà đấu tranh chống đảng.

Đám Ngụy kia là cát vùng sa mạc, khi hợp khi tan chỉ cần ai dám đứng ra phất cờ chưởi là chúng bay tứ phía. Đảng đã quyết tâm dàn trận địa, bắt đầu cầu khắp bốn biển năm châu, tiền của, chất xám kiều bào phải hút cho sát cho sâu, văn nghệ sĩ, những kẻ đi đầu phải cần chiêu dụ trước.

Nói là làm, kế hiểm sâu phải thực hành cho được. Đánh cho tan các lực lượng đấu tranh, nhóm cựu quân nhân, các đảng phái, khối Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành tiên hạ thủ vi cường, quyết ra tay chặt trước.

Làm là làm cho bằng được, cứ ra công khích tướng cho đám Ngụy chưởi nhau, nón cối tung cho nhiều, chẳng biết trúng đâu, nhưng kết quả cũng u đầu sứt trán. Ta mau giả đổi thù thành bạn dụ dỗ phường ham lợi ham danh. Bọn Ngụy kia càng chưởi càng phô bày bản chất gian manh, càng làm cho những kẻ không ưa việt cọng lại mau thành việt cọng.

Ngụy nay đã đến hồi tuyệt vọng. Chúng muốn hưng binh phạt Trụ, nhưng chẳng ma nào dám chém tướng đoạt thành; quần áo rằn ri, mũ đỏ, mũ xanh, cả bầy chỉ biết quẩn quanh, xách cờ vàng phản đối, biểu tình không làm rụng lông chơn con khỉ đảng. Lâu lâu đảng ị cho một mảng, cả bầy vừa hốt lại vừa la. Múa bút, vung gươm chúng thề dẹp tan lũ cọng sản gian tà, càng múa bút càng vung gươm chúng chỉ thấy xung quanh đâu đâu cũng là việt cọng.

Ta đang thế trên đầu ngọn sóng; cán bộ, du sinh ồ ạt đổ ra ngoài, sẽ cân bằng lực lượng ở tương lai, lúc đó hải ngoại quốc nội mới thực sự hoàn toàn giải phóng.

Nay ta ra tay nới lỏng cho bọn Ngụy mặc tình la. Mặc tình cho chúng ba hoa, đúng là một lũ ngu có chính nghĩa nhưng chẳng biết nâng niu, không biết phô trương mình là chính nghĩa. Chúng bây giờ như bầy ba khía, con nào lúc nhúc chờ đảng bỏ vào giỏ làm mắm là xong.

Ngọn còi rúc nguyệt, nơi tẻ nơi vui; dịp trống dồn hoa; chốn tươi chốn ủ. Đã biết rằng gian hùng thì chẳng quản, trăm trận một trường bại liệt, cái danh không, sĩ diện cũng là không; nhưng tiếc cho tạo hóa khéo vô tình, ngàn năm một hội tao phùng, phận dưới háng vẫn nằm ngay dưới háng.

Bản chức nay phụ trách ngoại giao, kiều vận, chạnh niềm cố cựu; dưới trướng nức mùi chung đỉnh, rượu ngon gái đẹp ê hề, áo quần xa mã nói chung đều là hàng hiệu. Tiền tham nhũng, vàng hối lộ thâu vào không kịp đếm. Ngân Hàng Thụy Sĩ đầy ắp đô la bòn mót của dân đen ngu quá lợn. Sực nhớ khi kề vai sát cánh diệt đám Ngụy quân Ngụy quyền; trong nhà chỉ có áo rách, quần bâu, trốn tránh chúng như chuột chù chui miệng cống.

Nền phủ định tới đây còn xốc nỗi, vu lòng một lễ, chén rượu thoi vàng; chữ tương đồng ngẫm lại vốn đinh ninh, khắp mặt ba quân, cờ hồng nón cối, có cảm thông thì tới đó khuyên mời; dù linh thinh hãy nghe lời đảng dặn.

Buổi chinh chiến đã lập công to lớn nay quân hàm Thượng Tá được đảng phong cho. Nay gặp buổi thanh bình ra sức chưởi đám tị nạn, lưu vong là đồ đĩ bợm. Chưởi lung tung cho thời thế loạn, đâm bị thóc, thọc bị gạo cho bọn chúng đổi bạn thành thù. Viện hai chữ Tự Do, khích nhóm này đánh nhóm kia cho kẻ địch giết nhau chơi mình tọa sơn quan hổ đấu.

Đảng ta là đảng cầm quyền chớ nề kẻ trước người sau, hàng trên lớp dưới, khao thưởng rồi sẽ tấu, gắn huy chương tổ quốc ghi công; hội thăng bình đừng có nghĩ rằng không, dù ai còn cha già, mẹ yếu, vợ góa, con côi, an tập hết, cũng ban bằng liệt sĩ.

Hồn phách đâu đều ngày tháng Mác Lê; hài cốt đó cũng thơm lừng nước non Liên Xô, Trung Quốc.
Cơ huyền diệu hoặc thâm trầm chưa rõ, thiêng thời về cố quốc, để hương thơm lửa sáng, kiếp tái sinh nhận lại thẻ đảng viên; niềm tôn thân dù sinh tử chớ nề, linh thời phò hộ cọng sản Việt Nam cho bể lặng sóng trong, duy vạn kỷ cho Việt Nam sớm thành Tàu Cọng.



Nguyễn Thanh Sơn, phụng thảo

(*) Thể theo “Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ” của Nguyễn Văn Thành


Friday, January 16, 2009

HỒI KÝ CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI (tự do - Nguyẽn Văn Luận)

Ông Hòa là cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bị Cộng sản bắt đi tù năm 1975, sang Mỹ theo diện HO. Tôi gặp ông tại một tiệc cưới, trở thành bạn, thường gặp nhau bởi cùng sở thích, nói chuyện văn chương, thời thế, dù trong quá khứ ông sống tại miền Nam, tôi ở xứ Bắc. Một lần tới thăm , cháu Thu Lan, con ông Hòa, hỏi tôi: "Bác ở Hàni mà cũng đi tị nạn à...?" Nghe hỏi tự nhiên nên tôi chỉ cười: "Cái cột đèn mà biết đi , nó cũng đi, ...nữa là bác!" Thực ra tôi đã không trốn thoát được từ lần đầu "vượt tuyến" vào miền Nam. Rồi thêm nhiều lần nữa và 2 lần "vượt biển", vẫn không thoát. Chịu đủ các "nạn" của chế độ cộng sản trong 27 năm ở lại miền Bắc, tôi không "tị nạn", mà đi tìm Tự Do , trở thành "thuyền nhân ", đến nước Mỹ năm 1982. Sinh trưởng tại Hànội, những năm đầu sống ở Mỹ, tôi đã gặp nhiều câu hỏi như cháu Thu Lan, có người vì tò mò, có người giễu cợt . Thời gian rồi cũng hiểu nhau. Tôi hằng suy nghĩ và muốn viết những giòng hồi tưởng, vẽ lại bức tranh Hànội xưa, tặng thế hệ trẻ, và riêng cho những người Hànội di cư. Người dân sống ở miền Nam trù phú, kể cả hàng triệu người di cư từ miền Bắc, đã không biết được những gì xảy ra tại Hànội, thời người Cộng sản chưa vận com-lê, đeo cà-vạt, phụ nữ không mặc áo dài. Hiệp định Geneve chia đôi nước Việt. Cộng sản, chưa lộ mặt là Cộng sản, tràn vào miền Bắc tháng 10 năm 1954. Người Hànội đã "di cư" vào miền Nam, bỏ lại Hànội hoang vắng, tiêu điều, với chính quyền mới là Việt Minh, đọc tắt lại thành Vẹm. Vì chưa trưởng thành, tôi đã không hiểu thế nào là ...Vẹm! Khi họ "tiếp quản" Hànội, tôi đang ở Hải phòng. Dân đông nghịt thành phố, chờ "tầu há mồm" để di cư. Trước Nhà Hát Lớn, vali, hòm gỗ, bao gói xếp la liệt. Lang thang chợ trời, tôi chờ cha tôi quyết định đi Nam hay ở lại. Hiệp định Geneve ghi nước Việt Nam chỉ tạm thời chia cắt, hai năm sau sẽ "Tổng tuyển cử " thống nhất. Ai ngờ Cộng sản miền Bắc "tổng tấn công" miền Nam! Gia đình lớn của tôi, không ai làm cho Pháp, cũng không ai theo Việt Minh. Cha tôi làm chủ một hãng thầu, nghĩ đơn giản là dân thường nên ở lại. Tôi phải về Hànội học. Chuyến xe lửa Hànội "tăng bo" tại ga Phạm Xá, nghĩa là hai chính quyền, hai chế độ, ngăn cách bởi một đoạn đường vài trăm mét , phải đi bộ hoặc xe ngựa. Người xuống Hải phòng ùn ùn với hành lý để đi Nam, người đi Hànội là con buôn, mang "xăng" về bán. Những toa tầu chật cứng người và chất cháy, từ chai lọ đến can chứa nhà binh, leo lên nóc tầu, bíu vào thành toa, liều lĩnh , hỗn loạn ... Tới cầu Long Biên tức là vào Hànội. Tầu lắc lư, người va chạm người. Thằng bé ù chạc 15 tuổi, quắc mắt nhìn tôi: "Đề nghị đồng chí xác định lại thái độ, lập trường tư tưởng..!". Tôi bàng hoàng vì thứ ngoại ngữ Trung quốc, phiên âm thành tiếng Việt, nghe lần đầu không hiểu , để rồi phải "học tập" suốt 20 năm, "ngoại ngữ cộng sản": đấu tranh, cảnh giác, căm thù và ...tiêu diệt giai cấp! (Thứ ngôn ngữ này ghi trong ngoặc kép). Hànội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hànội e dè nghe ngóng từng "chính sách "mới ban hành. "Cán bộ" và "bộ đội" chỉ khác nhau có ngôi sao trên mũ bằng nan tre, phủ lớp vải mầu cỏ úa, gọi là "mũ bộ đội", sau này có tên là "nón cối". Hànội "xuất hiện" đôi dép "Bình Trị Thiên", người Bắc gọi là "dép lốp", ghi vào lịch sử thành "dép râu". Chiếc áo dài duyên dáng, thướt tha của thiếu nữ Hànội được coi là "biểu hiện" của "tư sản, phong kiến", biến mất trong mười mấy năm sau, vì "triệt để cách mạng". Lần đầu tiên , "toàn thể chị em phụ nữ" đều mặc giống nhau : áo "sơ mi", quần đen. Hãn hữu , như đám cưới mới mặc sơ mi trắng vì "cả nước" không có xà phòng. Chơi vơi trong Hànội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng , Tú tài 2, cùng một số "lớp Chín hậu phương", năm sau sẽ sát nhập thành "hệ mười năm". Số học sinh "lớp Chín" này vào lớp không phải để học, mà là "tổ chức Hiệu đoàn", nhận "chỉ thị của Thành đoàn" rồi "phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!". Họ truy lùng...đốt sách ! Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn "kiểm tra", lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang "tập trung" tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm "phấn khởi", lời hô khẩu hiệu "quyết tâm", và "phát biểu của bí thư Thành đoàn": tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là ..."cực kỳ phản động!". Vào lớp học với những "phê bình, kiểm thảo...cảnh giác, lập trường", tôi đành bỏ học. Chiếc radio Philip, "tự nguyện " mang ra "đồn công an" , thế là hết, gia tài của tôi! Mất đời học sinh , tôi bắt đầu cuộc sống đọa đày vì "thành phần giai cấp", "sổ hộ khẩu", "tem, phiếu thực phẩm" , "lao động nghĩa vụ hàng tháng". Đây là chính sách dồn ép thanh niên Hànội đi "lao động công trường", miền rừng núi xa xôi. Tôi chỉ bám Hànôi được 2 năm là bị "cắt hộ khẩu", ...đi tù! Tết đầu tiên sau "tiếp quản", còn được gọi là" sau hòa bình lập lại", Hànội mơ hồ. Những bộ mặt vàng võ , áo quần nhầu nát, xám xịt, thái độ "ít cởi mở", từ "nông thôn" kéo về chiếm nhà người Hànội di cư. Người Hànội ở lại bắt đầu hoang mang vì những tin dồn và "chỉ thị": ăn Tết "đơn giản, tiết kiệm". Hàng hóa hiếm dần, "hàng nội" thay cho "hàng ngoại". Âm thầm, tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm, tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nhòa, ảm đạm, đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thủy Tạ, đêm nay có ca nhạc, lần cuối cùng của nghệ sĩ Hànội. Đoàn Chuẩn nhớ thương hát "Gửi người em gái miền Nam", để rồi bị đấu tố là tư sản, rạp xinê Đại Đồng phố Hàng Cót bị "tịch thu". Hoàng Giác ca bài "Bóng ngày qua", thành "tề ngụy", hiệu đàn nhỏ phố Cầu Gỗ phải dẹp, vào tổ đan mũ nan, làn mây, sống "tiêu cực" hết đời trong đói nghèo, khốn khổ. Danh ca Minh Đỗ, Ngọc Bảo, nhạc sĩ Tạ Tấn, sau này làm gì, sống ra sao, "phân tán", chẳng ai còn gặp nhau, sợ thành "phản động tụ tập". "Chỉ thị Đảng và Ủy ban Thành" "phổ biến rộng rãi trong quần chúng" là diệt chó. "Toàn dân diệt chó", từ thành thị đến "nông thôn". Gậy gộc, giây thừng, đòn gánh, nện chết hoặc bắt trói, rồi đầu làng, góc phố "liên hoan tập thể". Lý do giết chó , nói là trừ bệnh chó dại, nhưng đó là "chủ trương" , chuẩn bị cho đấu tố "cải tạo tư sản" và "cải cách ruộng đất". Du kích , công an rình mò, "theo dõi", "nắm vững tình hình" không bị lộ bởi chó sủa. Mọi nơi im phăng phắc ban đêm, mọi người nín thở đợi chờ thảm họa. Hànội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải "cung cấp" một năm theo "từng người trong hộ". Mẹ may thêm chiếc quần "đi lao động " thì con nít cởi truồng. Người thành thị, làm cật lực, xây dựng cơ ngơi, có ai ngờ bị quy là "tư sản bóc lột"? nhẹ hơn là "tiểu tư sản", vẫn là "đối tượng của cách mạng". Nông dân có dăm sào ruộng đất gia truyền vẫn bị quy là "địa chủ cường hào"! Giáo sư Trương văn Minh, hiệu trưởng trường Tây Sơn, ngày đầu "học tập", đã nhẩy lầu, tự tử. "Tư sản Hànội" di cư hết, chẳng còn bao nhiêu nên "công tác cải tạo được làm "gọn nhẹ" và "thành công vượt mức", nghĩa là mang bắn một, hai người "điển hình", coi là "bọn đầu xỏ" "đầu cơ tích trữ", còn thì "kiểm kê", đánh "thuế hàng hóa", "truy thu", rồi "tịch thu" vì "ngoan cố, chống lại cách mạng!". Báo, đài hàng ngày tường thuật chuyện đấu tố, kể tội ác địa chủ, theo bài bản của "đội cải cách" về làng, "bắt rễ" "bần cố nông", "chuẩn bị thật tốt", nghĩa là bắt học thuộc lòng "từng điểm" : tội ác địa chủ thì phải có hiếp dâm, đánh đập, bắt con ở đợ, "điển hình" thì mang thai nhi cho vào cối giã, nấu cho lợn ăn, đánh chết tá điền, hiếp vợ sặc máu ...! Một vài vụ, do "Đảng lãnh đạo", "vận động tốt", con gái, con dâu địa chủ, "thoát ly giai cấp", "tích cực" "tố cáo tội ác" của cha mẹ . Cảnh tượng này thật não nùng ! Lời Bác dạy suốt mấy mươi năm : "Trung với Đảng, hiếu với dân ..." là vậy! "Bần cố nông" cắm biển nhận ruộng được chia, chưa cấy xong hai vụ thì "vào hợp tác", "làm ăn tập thể", ruộng đất lại thu hồi về "cộng sản" . "Toàn miền Bắc" biết được điều "cơ bản" về Xã hội chủ nghĩa là... nói dối! Mọi người, mọi nhà "thi đua nói dối", nói những gì Đảng nói. Nói dối để sống còn, tránh "đàn áp", lâu rồi thành "nếp sống", cả một thế hệ hoặc lặng câm, hoặc nói dối, vì được "rèn luyện" trong xã hội ngục tù, lấy "công an" làm "nòng cốt" chế độ. Ở Mỹ, ai hỏi bạn: "How are you?", bạn trả lời: "I'm fine, thank you". Ở miền Bắc, thời đại Hồ chí Minh, "cán bộ" hỏi: "công tác" thế nào?, dù làm nghề bơm xe, vá lốp, người ta trả lời: "...rất phấn khởi, ra sức thi đua, lập thành tích chào mừng... các nước anh em!" Bị bắt bên bờ sông Bến Hải, giới tuyến chia hai miền Nam Bắc, năm 19 tuổi, tôi bị giong về Lệ Thủy bởi "bộ đội biên phòng", được "tự do" ở trong nhà chị "du kích" hai ngày, đợi đò về Đồng Hới. Trải 9 trại giam nữa thì về tới Hỏa Lò Hànội, vào xà lim. Cảnh tù tội chẳng có gì tươi đẹp , xã hội cũng là một nhà tù, không như báo, đài hằng ngày kêu to "Chế độ ta tươi đẹp". Cơ hàn thiết thân, bất cố liêm sỉ, người tù "biến chất", người tứ chiến kéo về, nhận là người Hànội, đói rét triền miên nên cũng "biến chất"! Đối xử lọc lừa, gia đình, bè bạn, họ hàng, "tiếp xúc" với nhau phải "luôn luôn cảnh giác". Hànội đã mất nền lễ giáo cổ xưa, Hànội suy xụp tinh thần vì danh từ "đồng chí"! Nằm trong xà lim, không có ngày đêm, giờ giấc, nghe tiếng động mà suy đoán "tình hình" Ánh diện tù mù chiếu ô cửa sổ nhỏ song sắt, cao quá đầu, tôi đứng trên xà lim, dùng ngón tay vẽ chữ lên tường, "liên lạc" được với Thụy An ở xà lim phía trước. Thụy An là người Hànội ở lại, "tham gia hoạt động " Nhân Văn Giai Phẩm, đòi tự do cho văn nghệ sĩ, sau chuyển lên rừng, không có ngày về Hànội. Bà đã dùng đũa tre chọc mù một mắt, nói câu khí phách truyền tụng: "Chế độ này chỉ đáng nhìn bằng nửa con mắt!" Người du lịch Việt Nam , ít có ai lên vùng thượng du xứ Bắc, tỉnh Lào Cai, có trại tù Phong Quang hà khắc, có thung sâu heo hút, có tù chính trị chặt tre vầu theo "định mức chỉ tiêu". Rừng núi bao la, tiếng chim "bắt cô trói cột", nấc lên nức nở, tiếng gà gô, thức giấc, sương mù quanh năm. Phố Hàng Đào Hànội, vốn là "con đường tư sản", có người trai trẻ tên Kim, học sinh Albert Sarreaut. Học trường Tây thì phải chịu sự "căm thù đế quốc" của Đảng, "đế quốc Pháp" trước kia và "đế quốc Mỹ" sau này. Tù chính trị nhốt lẫn với lưu manh, chưa đủ một năm, Kim Hàng Đào "bất mãn" trở thành Kim Cụt, bị chặt đứt cánh tay đến vai, không thuốc, không "nhà thương" mà vẫn không chết. Phố Nguyễn công Trứ gần Nhà Rượu, phía Nam Hànội, người thanh niên đẹp trai, có biệt danh Phan Sữa, giỏi đàn guitar, mê nhạc Đoàn Chuẩn, đi tù Phong Quang vì "lãng mạn". Không hành lý nhưng vẫn ôm theo cây đàn guitar. Chỉ vì "tiểu tư sản" , không "tiến bộ" , không có ngày về...! Ba tháng "kỷ luật", Phan Sữa hấp hối, khiêng ra khỏi Cổng Trời cao vút, gió núi mây ngàn, thì tiêu tan giấc mơ Tình nghệ sĩ ! Người già Hànội chết dần, thế hệ thứ hai, "xung phong", "tình nguyện" hoặc bị "tập trung" xa rời Hànội. Bộ công an "quyết tâm quét sạch tàn dư đế quốc, phản động", nên chỉ còn người Hànội từ "kháng chiến" về, "nhất trí tán thành" những gì Đảng ...nói dối ! Tôi may mắn sống sót, dù mang lý lịch "bôi đen chế độ", "âm mưu lật đổ chính quyền", trở thành người "Hànội di cư", 10 năm về Hànội đôi lần, khó khăn vì "trình báo hộ khẩu", "tạm trú tạm vắng". "Kinh nghiệm bản thân" , "phấn đấu vượt qua bao khó khăn , gian khổ", số lần tù đã quên trong trí nhớ, tôi sống tại Hải phòng, vùng biển. Hải phòng là cơ hội "ngàn năm một thuở" cho người Hànội "vượt biên" khi chính quyền Hànội chống Tầu , xua đuổi "người Hoa" ra biển, khi nước Mỹ và thế giới đón nhận "thuyền nhân" tị nạn. Năm 1980, tôi vào Sàigòn, thành phố đã mất tên sau "ngày giải phóng miền Nam". Vào Nam, tuy phải lén lút mà đi, nhưng vẫn còn dễ hơn "di chuyển" trong các tỉnh miền Bắc trước đây. Tôi bước trên đường Tự Do, hưởng chút dư hương của Sài gòn cũ, cảnh tượng rồi cũng đổi thay như Hànội đã đổi thay sau 1954 vì "cán ngố" cai trị. Miền Nam "vượt biển" ào ạt, nghe nói dễ hơn nên tôi vào Sàigòn, tìm manh mối. Gặp cha mẹ ca sĩ Thanh Lan tại nhà, đường Hồ Xuân Hương, gặp cựu sĩ quan Cộng Hòa, anh Minh , anh Ngọc, đường Trần quốc Toản, tù từ miền Bắc trở về. Đường ra biển tính theo "cây", bảy, tám cây mà dễ bị lừa. Chị Thanh Chi (mẹ Thanh Lan) nhìn "nón cối" "ngụy trang" của tôi, mỉm cười: "Trông anh như cán ngố, mà chẳng ngố chút nào!" "Hànội, trí thức thời Tây, chứ bộ...!. Cả nước Việt Nam, ai cũng sẽ trở thành diễn viên, kịch sĩ giỏi!" Về lại Hảiphòng với "giấy giới thiệu" của "Sở giao thông" do "móc ngoặc" với "cán bộ miền Nam" ở Saigòn, tôi đã tìm ra "biện pháp tốt nhất" là những dân chài miền Bắc vùng ven biển. Đã đến lúc câu truyền tụng "Nếu cái cột điện mà biết đi....", dân Bắc "thấm nhuần" nên "nỗ lực" vượt biên. Năm bốn mươi tư tuổi, tôi tìm được Tự Do, định cư tại Mỹ, học tiếng Anh ngày càng khá, nhưng nói tiếng Việt với đồng hương, vẫn còn pha chút "ngoại ngữ " năm xưa. Cuộc sống của tôi ở Việt Nam đã đến "mức độ" khốn cùng, nên tan nát, thương đau. Khi đã lang thang "đầu đường xó chợ" thì mới đủ "tiêu chuẩn" "xuống thành phần", lý lịch có thể ghi là "dân nghèo thành thị", nhưng vẫn không bao giờ được vào "công nhân biên chế nhà nước". Tôi mang nhẫn nhục, "kiên trì" sang Mỹ, làm lại cuộc đời nên "đạt kết quả vô cùng tốt đẹp", "đạt được nguyện vọng" hằng ước mơ! Có người "kêu ca" về "chế độ tư bản" Mỹ tạo nên cuộc sống lo âu, tất bật hàng ngày, thì xin "thông cảm" với tôi, ngợi ca nước Mỹ đã cho tôi nhân quyền, dân chủ, trở thành công dân Hoa kỳ gốc Việt, hưởng đầy đủ "phúc lợi xã hội", còn đẹp hơn tả trong sách Mác Lê về giấc mơ Cộng sản.
' );
//-->\n
' );
//-->

Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó
' );
//-->

" target\u003d\"_blank\" onclick\u003d\"return top.js.OpenExtLink(window,event,this)\"\u003e\u003cem\u003e\u003cfont face\u003d\"Times New Roman, Times, Serif\"\u003e
' );
//-->\n
' );
//-->

Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó
' );
//-->

u003c/font\u003e\u003c/em\u003e\u003c/a\u003e\u003c/h6\u003e\u003c/div\u003e\u003cbr\u003e",1] ); //--> Chủ nghĩa Cộng sản xụp đổ rồi. Cộng sản Việt Nam bây giờ "đổi mới". Tiếng "đổi" và "đổ" chỉ khác một chữ "i". Người Việt Nam sẽ cắt đứt chữ "i" , dù phải từ từ, bằng "diễn biến hòa bình". Chế độ Việt cộng "nhất định phải đổ", đó là "quy luật tất yếu của lịch sử nhân loại". Ôi! "đỉnh cao trí tuệ", một mớ danh từ ...! tựdo-Nguyễn Văn Luận

Các Hướng Tiến Cần Quan Tâm Để Giử Thế Chủ Động

Các Hướng Tiến Cần Quan Tâm Để Giử Thế Chủ Động
(Hồng Lĩnh)


CSVN tạo hai cái mốc 2004 và 2009 nhắm chủ động tấn công
Một chiều dài 34 năm của trang tranh đấu sữ nhắm mục tiêu giải thể chế độ CSVN tại Việt Nam đã cho thấy : Dưới bóng cờ vàng ba sọc đỏ, sau khi cuộc phản công rải dài trên tuyến hải ngoại năm châu của NVHN có kết quả trên các bình diện, thể chế CSVN đổi giọng qua nghị quyết 36 của Bộ Chính Trị: “-Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam (hết trích) ». Bọn « phản động » trở thành « khúc ruột » ngàn dăm xa xôi!
Tại quốc nội, suốt một chiều dài từ 2000 tời 2008, các nhà dân chủ đơn độc lên tiếng phản kháng phải chịu tù đày. Cũng tại đất nước nầy suốt năm qua, quần chúng tôn giáo tiên phong công khai trực diện đối đầu đòi sự thật, tư hữu và công lý cho toàn dân, « Đảng và Nhà Nước », cũng vẫn còn là Bộ Chính Trị qua ống loa Nguyễn Tấn Dũng, sau khi đã tung toàn lực đàn áp và đấu tố, đã bưng bô: « Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của mộ bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài…Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân ta (hết trích) ». Đảng và Nhà Nước không còn gọi tôn giáo là thuốc phiện nữa qua ngôn từ của Chỉ Thị. Cùng một lúc hết trâng tráo muôn năm tuyên bố CS sẽ là bất diệt. Trái lại tuyên bố « tôn giáo sẽ tồn tại lâu dài ».
Hai cái chớp ngôn từ vừa kể ( NVHN và tôn giáo là « hai bộ phận của dân tộc ») có phải là hai điềm báo một thay đổi tư duy nơi con người CSVN và của chính sách cai trị của chúng, hay chỉ là hai động thái chính trị có tính cách ru ngủ, trong xoay chiều vừa tấn công vừa chống đỡ ý chí phản công của NVHN và đồng bào quốc nội ? Nhưng với kinh nghiệm bản thân, cựu TT Boris Yeltsin đã cảnh báo : « CS không bao giờ thay đổi. Chỉ tiêu diệt chúng đi», và cũng nên ghi nhận câu nói bất hủ sau đây: « Đừng nghe những gì chúng nói. Hãy xem những việc chúng làm ». Đâu là sự thật ?

Nghị quyết 36 ngày 26/03/2004 của BCT
Ngày 26-3-2004, Bộ Chính trị Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết số 36-NQ/T.Ư về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Đảng chỉ thị các cấp chính quyền và đoàn thể nhân dân tổ chức “ phổ biến rộng rãi nghị quyết này đến cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong nước và đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ”. Nghị quyết nầy chứa ba điểm chính đã chọi đầu nhau ngay trong ngôn từ :
Đảng và Nhà Nuớc « khiển trách » NVHN qua nghị quyết 36
Đảng và Nhà Nước xác định : “Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam, đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước».
“Đó chỉ là những phần tử bất mãn của chế độ cũ, những kẻ có nợ máu với nhân dân, những thành phần đĩ điếm, trốn tránh lao động...”. Ngoài ra Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao Cộng sản Hà Nội tuyên bố : “....những người vượt biển ra nước ngoài là bọn người phản quốc, chống phá cách mạng, “ là những thành phần rác rưởi, lưu manh, những kẻ phản động, phản quốc, bỏ nước ra đi theo ngụy”. Chính Bộ trưởng Y-tế Nguyễn Thượng Nhân đã phát biểu là “nên treo cổ hết những kẻ phản động ấy”(hết trích)!
Đảng và Nhà Nuớc lên lớp NVHN qua nghị quyết 36
« Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao. Còn thiếu các biện pháp duy trì, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; việc giữ gìn tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ còn khó khăn. Nhu cầu giao lưu văn hóa giữa cộng đồng với đất nước, giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn và trở nên bức thiết song chưa được đáp ứng. Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (hết trìch)”.
Đảng và Nuớc rót mật vào tai NVHN qua nghị quyết 36
“-Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm đất nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học - công nghệ, hoạt động văn hóa - nghệ thuật ».
“Đông đảo bà con hoan nghênh công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước, mong muốn đất nước cường thịnh, sánh vai với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; nhiều người đã về thăm gia đình, quê hương, tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, nhân đạo, từ thiện... Tình hình trên là xu thế chủ yếu trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.” (hết trích)”. Cái hôn thế kỷ củ Juda tân thời !
Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 05/01/2009 của Nguyễn Tấn Dũng
Cùng một giọng điệu của Nghị Quyết 36, ngày 05/01/2009 Nguyễn Tấn Dũng ra Chỉ Thị « Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước về tôn giáo ». Nhưng truớc đó, vào ngày 22/12/2008 Nguyễn Tấn Dũng đã tới nhóm họp với bộ phận chuyền nghề vũ lực đàn áp và ra chỉ thị hành động của năm 2009 cho chúng. Hai sự kiện vừa kể, tuy không nằm chung vào một văn bản như trong Nghị Quyết 36, nhưng không thể tách rời. Vì đi từ một ý chí và nguồn gốc, tuy xảy ra vào hai thời điểm khác nhau. Ý chí và nguồn gốc ấy là Bộ Chính Trị CSVN. Chỉ thị nầy chứa ba điểm đối đầu nhau ngay trong ngôn từ:
Đảng và Nhà Nuớc cuơng quyết hành động
chống lực lượng thù địch dùng diễn biến hòa bình
« Ngăn cản những cuộc biểu tình, những âm mưu diễn biến hòa bình của các lực luợng thù địch sẽ là một trong những vai trò then chốt của công. Ngành công an phải làm tốt vai trò nòng cốt trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm, chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện sớm mầm mống tội phạm đối lập để xử lý kịp thời, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện, các hội nghị lớn trong năm 2009».
Đảng và Nhà Nước nói thay tôn giáo qua Chỉ Thị 1940/CT-TTg
Trong mê sảng trước các buổi cầu nguyện đòi công lý tại TKS, Thái Hà và hiệp thông dồn dập khắp nơi, Đàng và Nhà Nước bưng bô nói thay tôn giáo : « Hoạt động tôn giáo cơ bản tuân thủ pháp luật, đa số an tâm (cầu nguyện, chế riễu, chưởi thầm, chuởi đỗng và ngyuền rủa ngày đêm và Đảng và Nhà Nuớc gọi là an tâm), tích cực tham gia xây dựng đất nước (hết trích) ».
Đảng và Nhà Nước giọng ru con qua Chỉ Thị 1940/CT-TTg
Đảng và Nhà Nước nhai lại Nghị Quyết 36 : « Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài trong qúa trình xây dựng chủ nghiã xã hội nước ta (con vẹt bảo sẽ tồn tại lại dùng cụm từ « qúa trỉnh », thế là sao ? Kinh tế thị trường tự do là đối nghịch với hoang tưởng XHCN : Làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu, không giai cấp giàu nghèo là sao ?). Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân (hết trích) ».
So sánh và thẩm định Nghị Quyết 36 và Chỉ Thị 1940/CT-TTg
Về ngôn từ, Nghị Quyết và Chỉ Thị trên phương diện trình bày không khác nhau trong rập khuôn của hành chánh CSVN. Đảng và Nhà Nước được Nguyễn Tấn Dũng nêu lên như hai ngôi hay hai tay của một quyền lực tối cao. Quyền lực ấy là BCT CSVN suốt ngày chỉ chìm đắm tìm kiếm các mưu đồ đen tối và xem con người cũng như đất nước chỉ là dụng cụ của các hoán đổi. Đảng Tự xem có khả năng phán quyết và nhận định không sai lầm. Độc tôn xem tất cả chỉ là bộ phận phải chụi chi phối và phải phục vụ.
Quyền lực cho Nghị Quyết (biểu quyết ý định) ra đời và nhắm vào NVHN đang chống đối chưa có tổ chức tỗng quát, tuy đã thành công tại địa bàn mà vũ lực của chúng không kiểm soát hay chế ngự được. Do đó cần tìm cách dụ dỗ để dẫn thành phần nầy, không thiếu những nguyên tử tay mơ hay tham lam, vào con đường phục vụ chúng cũng như phá sự chống đối dưới nhiều hình thức.
Để tập thể nầy tan ra từng mãnh và vô tình phục vụ chúng dưới nhiểu chiêu bài và qua các biện minh vớ vẫn. Vì đa đảng và đa nguyên, trong thiếu tổ chức, vô tình có thể đi vào lối « đa nhân » và «đa chiến thuật » đối chọi, tạo hỗn loạn trong hành động có thể tới điểm các chiến thuật ấy tự tiêu diệt lẫn nhau trong cảnh quân mình bắn lính ta. CSVN đang nhắm điểm nầy.
Nhà báo và cưụ đại tá Bùi Tín, đã đi trong lòng địch, khai hỏa: “...29 năm nay những người lãnh đạo (Cộng sản) lại không làm gì để hòa hợp hòa giải cả, họ vẫn coi những người Việt ở hải ngoại chỉ là con bò sữa để vắt sữa và vẫn khinh thị như qua cái nghị quyết 36 vừa qua. Đây là cái nghị quyết kêu gọi người Việt ở nước ngoài phải quỳ xuống mà đầu hàng một lần nữa thì mới cho về nước, mới hợp tác... chứ không phải đối xử với 2 triệu đồng bào ở nước ngoài một cách bình đẳng, một cách tôn trọng về mặt chính trị, về tư thế của một người công dân”. Ngoài ra từ khi Nghị Quyết ra đời tới nay, không biết bao sự kiện lỗ đầu và vở sọ cho các con thiêu thân đã lao đầu vào thi hành tiếng gọi của Nghị Quyết và bị lừa đầu tư voà Việt Nam. Xem trường hợp của NRG Resources, Turan và công ty Sông Việt nam California.
Trái lại Chỉ Thị (ra lệnh cho thuộc quyền hay đã bị đặt vào tròng nô lệ) nhắm vào thành phần tôn giáo trong nước, tuy có tổ chức, nhưng bị đặt dưới sự chi phối nặng nề trong cảnh cá nằm trên thớt vũ lực của chúng và các hoạt động cạnh tranh của tôn giáo quốc doanh.
Chỉ thị (5/1/2009), tiếp theo lệnh cho công an hãy sẵn sàng xung trận (22/12/2008), chỉ là màn ru ngủ nhắm tạo ảo giác (theo Trần Đoan Hùng) : « Đảng và Nhà Nước đang có thiện chí đáp ứng và giải quyết thỏa đáng các đòi hỏi bức xức của các cộng đồng tôn giáo. Với động thái Chỉ Thị, BCT CSVN hy vọng sẽ giải tỏa tâm lý phẫn nộ đang dâng cao trong quần chúng về các vụ ăn cướp, hèn nhát trước ngoại xâm, tệ đoan tham nhũng biến chất, cửa quyền của đảng viên và cán bộ ».
BCT cũng hy vọng « tạo được phân hóa một số thành viên lãnh đạo tôn giáo, qua cám dỗ vật chất và ưu tiên, sẽ sẵn sàng đón nhận ơn huệ của Đàng và Nhà Nước ban phát riêng tư để bước vào con đường làm tay sai, khai triển mặc cảm tỵ hiềm giữa các tôn giáo, đặt tôn giáo đối đầu với cái mà chúng gọi là « dân tộc» bị bưng bít thông tin ».
Trong hai vặn kiện. Nếu loại trừ phần dụ dỗ gọi NVHN và tôn giáo là « Bộ phận » của dân tộc. Thời ngôn ngữ còn lại của cả hai văn kiện luôn xem hai thành phần ấy là « phản động hay thù nghịch » của quyền lực BCT CSVN.
Vì các đặc trưng vừa kể từ hai văn kiện. Nương theo chiến lược hai tầng và dựa trên ngôn ngữ pha lẫn giữa suy tư gợi tâm tình phỗ thông đại chúng và các giả định bừa bãi, ý chí của BCT tổi thiểu nhắm vào khai thác hay ru ngủ, tối đa là loại trừ sau khi đã khai thác và ru ngủ hai thành phần của cái mà bọn chúng gọi là lực luợng «Diễn Biến Hòa Bình». Nếu không quan tâm tới các điểm bất di và bất dịch của Đảng và Nhà Nước, tư duy sẽ rơi vào trạng thái lạc quan vô căn cứ với cảm nghĩ Đảng và Nhà Nước đã thay đổi. Tuy thế ngày nay một số người tìm biện hộ qua câu nói : CSVN đã thay đổi ».
Ngày nay như tất cả đã phải biết, vì sinh tồn, con thú CSVN đã phải ra khỏi rừng và hội nhập vào sinh hoạt hoàn cầu, những lãnh đạo cuồng tín và muôn năm ngoan cố bắt buộc phải giả thay màu như con thạch sùng để trờ thành đối tác với tài phiệt quốc tế và NVHN đã thành công. Trong vài trò đối tác nặng mùi vừa ăn cướp vừa la làng ăn dan nói dối, chế độ đặt ưu tiên vào « Ỗn định chính trị » qua chiêu bài phát triển kinh tế.
Ổn định bằng nắm chặt kiểm soát các chống đối hay ngoài hàng ngũ, bưng bít thông tin và nắm trọn tài nguyên đất nước bằng quái ngữ « Sở hữu nhà nước và bộ phận dân tộc ». Thành phần dân chúng quốc nội và một số « Việt Kiều » nhẹ dạ chỉ có quyền hưởng các rơi rớt sót lại trên bàn tiệc của Đảng và Nhà Nuớc.
Chính vì thế sinh ra nhu cầu đặt ra cho chế độ là phải tạo thế chủ động xâm nhập NVHN để vừa rút tỉa và phá rối với ru ngủ và hy vọng giải tỏa áp xuất cao tại quốc nội lên chế độ. Hầu giúp chề độ tồn tại lâu hơn và có bộ mặt thích hợp hơn. Một thức tĩnh và một quan tâm cần phải có đối với các chiến sĩ tự do của quốc nội hay NVHN.
Các hướng cần quan tâm để giữ thế chủ động
Giải thể CSVN hiện đang trên đà thực hiện do hai cánh quân quốc nội và NVHN. Chiến dịch hãy còn dài. Những cam go không thiếu. Cho những ngày sắp tới, Nghị Quyết 36 và Chỉ Thị 05/01/2009 là hai sa bàn hành động của CSVN vào năm 2009. Hai sa bàn nhắm tấn công NVHN và quốc nội. Để đối đầu, các hướng sau đây cần quan tâm để nắm thế chủ động bắt CSVN rơi vào thế bị động phòng thủ hay phải thay đổi kế hoạch của Nghị Quyết 36 và Chỉ Thị để chúng lúng túng đỡ gạt:
Lối nào đây để thống nhất hành động
của lực lượng trên tuyến hải ngoại ?
Cho bất cứ một cuộc đấu tranh nào. Vấn để tổ chức luôn đóng một vai trò chiến lược. Suốt trên ba mươi năm tại hải ngoại, không biết bao cố gắng và sáng kiến đã được NVHN đem ra để tạo thống nhất các lực lượng trên địa bàn nầy, hầu đủ mạnh và có tiếng nói chung đại diện để giải quyết mặt trận ngoại giao và yểm trợ quốc nội. Quốc nội sẽ có can đảm tiến lên và chỉ có thể thắng sau khi bạo quyền đã tành tại trận tuyến ngoại giao. Nhưng kết qủa chưa thành và đạt tạo một số bi quan trước thời cuộc và công cuộc giải thề chế độ CSVN.
Các trắc nghiệm đã nhắm vào tổ chức hàng dọc. Một nhà lãnh đạo hay một bộ tư lệnh tỗng quát. Có nhiệm vụ gầy dựng các bộ phận đặc trách, hoạch định cũng như phân phối các công tác tối cần theo một tiến trình, hay tạo đột biến làm đòn bẩy và vạch kế hoạch phản công kịp thời các phản ứng của bạo quyền.
Nếu tiến xuôi theo hướng ấy khó thành. Tại sao không tiến ngược chiều? Thật thế, một số hướng hành động của cuộc tranh đấu nầy xem như hiển nhiên cho cánh quân hải ngoại: truyền thông, vận động ngoại giao áp lực hay giải tỏa dưới nhiều hình thức, yểm trợ tinh thần và kinh tế cánh quân quốc nội. Do sáng kiến cá nhân hay chính đảng và tập hợp, các hướng nầy đã quy tụ được một số thành phần đi vào hành động, tuy đang còn riêng rẽ và chưa có bình diện của toàn tuyến hải ngoại.
Vấn đề còn lại hiện nay là tạo tổ chức tỗng quát trên bình diện toàn tuyến hải ngoại cho mỗi hướng. Như bước đầu và cho mỗi hướng, hy vọng năm mới nầy sẽ xuất hiện những buỗi gặp gỡ quốc tế hay hội thảo hàng năm, để trao đỗi kinh nghiệm và chương trình hành động, có tính cách khuyến khích và chuyển ngọn đuốc cho thế hệ trẻ nối tiếp. Để từ đó tạo ra chỉ huy tỗng quát cho mỗi hướng? Khi các hướng nầy đã có tổ chức tỗng quát hẵn hoi. Các hướng sẽ hợp quần lại tạo ra tỗng hợp hành động hỗ trợ lẫn nhau. Từ đó một sẽ sinh ra một tỗng hợp đại diện điều hành.
Một số điểm cần nút chận hay khai thác
Thời điểm đã đến để chận các sáo ngữ ngoại giao lưỡi gỗ của tư bản xanh làm ăn với CSVN và vận động ghi điều khoản tôn trọng Nhận Quyền như một điều kiện vào các ký kết kinh tế. Tuy là người ngoài cuộc, nhưng dân biểu quốc hội Âu-Châu Marco Cappato đã nhận ra hai vấn đề cho Việt Nam. Ông đã tố cáo : « .. Các chính quyền ở Tây phương, vốn chỉ nghĩ đến chuyện làm ăn, mà có khi lại làm ăn tồi tệ, nói rằng Việt Nam đang có tiến bộ .. “.
Từ tố cáo tới hành động thực tiển, ông cảm thấy cần chấn chỉnh lại câu nói lừa phỉnh trên và đã vận động quốc hội Âu-Châu ra Nghị Quyết : « Nghị Quyết về Hiệp định mới về Đối tác và Hợp tác EU-Viet Nam và về Nhân Quyền (phiên họp 22/10/2008 tại Strasbourg) » đòi chính quyền Châu Âu ràng buộc việc giao thương giữa Châu Âu và Việt Nam vào những tiến bộ (phải nói rõ tiến bộ nào ? Và không bâng quơ như lưỡi gỗ Michalak) dân chủ và Nhân Quyền tại Việt Nam.
Vừa rồi Human Rights Watch (HRW) mời gọi Ngân hàng Thế giới (Word Bank) và các quốc gia cắt viện trợ gây áp lực với Việt Nam nhằm chấm dứt hình sự hóa tự do ngôn luận.
Chỉ có loại Nghị Quyết và đòi hỏi nầy mới có thể bắt CSVN vào thế bị động chống đỡ trên độc đạo « Phát Triền Kinh Tế » sinh tử của chúng.
Triệt để vận động các phái quốc hội của các dân chủ, các tổ chức quốc tề Nhân Quyền , Amnesty International và các hội từ thiện tới Việt Nam ủy lão và thăm viếng các tôn giáo, các nhà bất đồng chính kiến đang bị tù đày và các thân nhân của các nhà tranh đấu đang bị tù đày để vô hựu hiệu hóa vũ lực đàn áp và tạo giải tỏa cho các nhà dân chủ đang bị giam cầm.
Mốt số điểm cần quan tâm
Từ ngày Nghị Quyêt ra đời, không biết bao nhiêu hiện tuợng nghịch lý đã xảy ra cho cộng đồng NVHN. Người chống cộng đánh phá người chống cộng. Hãy xem vụ ra mắt của sách « Biến Động Miền Trung » vào ngày 09/05/2008 tại Huston. Bề ngoải là liên hợp các chánh đảng đánh phá ban tổ chức hội thảo và đánh phá tới cùng !Hai bên tham chiến thuộc NVHN ? Những vấn đề của chúng ta nằm trong Nghị Quyết 36.
Về vấn đề quyên góp yểm trợ quốc nội. Một vấn đề tréo hèo giữa Dân Chủ và Từ Thiện. Theo tác giả tiến-sĩ Nguyễn Đình Thắng : « Cảnh khốn cùng của đồng bào trong nước thường làm cho chúng ta lấn cấn giữa tình và lý. Ai nặng tình thì chủ trương giúp người ngay trước mắt, dù chỉ là một số nhỏ trong biển khổ mênh mông. Ai nghiêng về lý thì muốn giải quyết tận gốc các vấn nạn xã hội và chủ trương không tiếp sức hay làm hộ cho chế độ độc tài và tham nhũng. Nguyên tắc là mọi sự trợ giúp từ thiện đều phải có điều kiện, như phải nộp dự án với mục đích, mục tiêu, kế hoạch hành động, và ngân sách dự trù; phải báo cáo đều đặn và minh bạch về công việc ».
Tại điểm nầy đã xãy ra rối loạn trong hàng ngủ NVHN. Chỗ đã chấp nhận giao tiền cho một linh mục, tuy linh mục nầy không chịu nhập gia tùy tục ( NVHN chào lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của cuộc chiến đấu cho tự do). Trong câu chuyện bà Tim Rebeaud, không những rối loại, lại còn hạ cờ để thỏa mãn ý chống đối chào lá cờ của bà Tim. Tại Âu-Châu (Bỉ). Hội cựu quân nhân oanh tạc vào hội người Việt hay ai đó xưng danh hội người Việt. Rồi tiền quyên góp được không nghe nói đã giao cho ai. Có lẽ là bà Tim, tuy bà nầy vẫn ngoan cố có nhập gia nhưng không tùy tục. Ngày nay tại quốc nội. HĐGMVN là cơ quan đang đối đầu với tà quyền và HT Thích Quảng Độ đang bị quản thúc tại Thiền viện. Nhưng có tư thế biết chổ nào cần giúp đỡ cũng như có minh bạch với trách nhiệm. Tại sao NVHN không chấm dứt lối củ và yềm trợ qua hai đại diện ấy, để yềm trợ kinh tế không rơi vào tay CSVN hay không kiểm soát được?
Trong kế hoạch nhuộm đỏ Cộng Đồng Hải Ngoại hay trực diện đánh vào trung tâm. Báo chí CSVN loan tin cầm quyền của thề chế sẽ mở rộng kế hoạch chiêu dụ việt kiều và thi hành Nghị Quyết 36, bằng tung ra cờ máu, hình Hồ và VAALA tại Nam California. Chuyển CS từ quốc nội ra Hải Ngoại. Không khác gì mang hình ảnh Hitler và cờ chữ Vạn Đức Quốc Xã vào giữa một Cộng một Đồng Do Thái. Một thách đố không thể bỏ qua trong những ngày sắp tới đối với NVHN. Những quốc gia dân chủ không bao giờ chấp nhận, vì lý do an bình công cộng, một biểu tựợng gây xáo trộn và bất bình cho dân chúng. Một khía cạnh có thề khai thác để chận đứng lạm dụng tự do truyền thông vào mục tiêu đen tối.
Lời kết
Cuộc tranh đấu bất bạo động tháo gỡ thể chế điêu linh CSVN đang ở vào hồi quyết liệt. Một bạo quyền chống báng và chà đạp ba gía trị tối thuợng của con người : Dân Chủ, Tự Do và Nhân Quyền, đã tung ra hai sa bàn tấn công qua Nghị Quyết 36 và Chỉ Thị 1940/CT-TTg. Nhắm vào khối NVHN và Tôn Giáo tại quốc nội giữa lòng một dân tộc mà phần đông đang suy thoái tinh thần và mất hướng.
Hai lực lượng ấy phải ý thức được vấn đề sinh tử và dựa lưng vào nhau để tạo thế chủ động. Đấu tranh là sách lược với bền chí và niềm tin. Không chiến thắng nào mà không có cái gía của nó. Các gía trị càng cao, cái giá phải trả để chiếm lại hay bảo tồn luôn có phần tương xứng với nhau.
Đề đối đầu có hiệu lực hai sa bàn tấn công của một thể chế ở thế phải tiêu vong, nhưng còn vũ lực và mưu dan để trì hoãn sự tồn tại và gây tang thương. Một tái tổ chức và tái phối trí cũng như chỉnh đốn hành động là lẽ đương nhiên. Một thức thời nắm vững các hướng tiến cần quan tâm cần phải có. Một chiến thắng chỉ tới từ một hợp quần chiến đấu và xa vời đối với những đám nguyên tử trong thế du kích chiến đấu đơn độc với tương tác sát hại lẫn nhau do cố ý hay vô tình. Những cố ý vì một vài quyền lợi riêng tư chóng phôi pha hay vị kỷ. Những vô tình vì tin vào hoang tưởng, vào ru ngủ của lưu manh hay chính trị thời cơ.

HồngLĩnh

Tuesday, March 11, 2008

Tàn sát Mậu Thân tại Huế (1968) (Phần II)

Tàn sát Mậu Thân tại Huế (1968) (Phần II)

Trần Gia Phụng

III. Cuộc tàn sát Mậu Thân tại Huế

1. Toàn cảnh
Trên toàn lãnh thổ VNCH, trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, chỉ trừ vụ tấn công Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn để gây tiếng vang trên thế giới, du kích CS hầu như tránh tấn công các căn cứ quân sự Hoa Kỳ trên toàn quốc, mà chỉ nhắm vào các thành phố và các căn cứ quân sự VNCH.
Cuộc tấn công diễn ra sớm nhất tại Quảng Nam khi họ pháo kích trại định cư Trà Kiệu, ở phía Nam thành phố Đà Nẵng khoảng 30 cây số, vào đêm Giao thừa tức đêm 29 rạng 30-1-1968, và rút lui trễ nhất tại Huế vào ngày 25/02/1968. Như vậy cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân diễn ra trong gần một tháng. Trong suốt tháng nầy, cộng sản tấn công 44 địa điểm tại các thị trấn, tỉnh lỵ và thành phố trên toàn quốc:
• Vùng 1 Chiến thuật: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín (Tam Kỳ), Quảng Ngãi.
• Vùng 2 Chiến thuật: Bình Định, Bình Thuận, Tuyên Đức (Đà Lạt).
• Vùng 3 Chiến thuật: Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, Biên Hòa, Long Bình, Bình Dương, Bà Rịa.
• Vùng 4 Chiến thuật: Phong Dinh (Cần Thơ), Vĩnh Long, Kiến Hòa, Định Tường, Kiên Giang, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Gò Công, Bạc Liêu.
Trong số những nơi bị tấn công, hai địa điểm quan trọng nhất mà cộng sản nhắm tới là hai thành phố Sài Gòn và Huế.
Sài Gòn là thủ đô của VNCH. Bộ máy chính quyền trung ương đóng tại đây. Sài Gòn còn là nơi tập trung trụ sở các tòa đại sứ, các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước. Cộng sản quyết tấn công Sài Gòn mạnh mẽ để gây tiếng vang lớn trên thế giới. Vì tầm quan trọng của mặt trận Sài Gòn, cộng sản tung vào đây bộ chỉ huy cao cấp nhất của MTDTGPMNVN như Nguyễn Văn Linh (bí thư mặt trận Sài Gòn), Võ Văn Kiệt (phó bí thư), Trần Văn Trà (chỉ huy phó Lực lượng Võ trang MTDTGPMNVN), Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh...(Chính Đạo, Mậu Thân, sđd.173).
Cộng sản mở cuộc tấn công Sài Gòn vào lúc 2 giờ sáng mồng 2 Tết, tức rạng ngày 31/01/1968, đánh vào Dinh Độc Lập, tòa đại sứ Hoa Kỳ, đài Phát thanh Quốc gia, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng tham mưu, Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, và nhiều vị trí vùng phụ cận. Lúc đó, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về Mỹ Tho nghỉ Tết tại quê vợ. Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã nhạy bén chỉ huy chận đứng được mũi đánh chiếm đài Phát thanh Quốc gia của Việt Cộng (Chính Đạo, Mậu Thân, sđd.183), vì nếu cộng sản chiếm được đài nầy, phát thanh trên toàn quốc lời kêu gọi tổng khởi nghĩa, thì tai hại về ngoại giao và nội trị không thể nào lường được.
Tuy bị bối rối lúc đầu, nhưng quân đội VNCH phản ứng kịp thời, làm chủ tình hình ngay trong ngày mồng 3 Tết. Các đơn vị cộng sản thất bại, phải lần lượt rút ra khỏi vòng đai thành phố Sài Gòn trong vòng một tuần lễ. Một việc đáng tiếc xảy ra trong cuộc phản công là vì quá nóng ruột do đồng đội bị sát hại, chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan, tư lệnh Cảnh sát Quốc gia, đã tự tay bắn chết một trung uý cộng sản giả dạng thường dân bị bắt tại trận khi đang giết hại một hạ sĩ quan cảnh sát gần chùa Ấn Quang, Sài Gòn. Tấm hình do ký giả Eddie Adams thuộc Associated Press (AP, Hoa Kỳ) chụp lại cảnh nầy, được giải thưởng Pulitzer (ngành báo chí Hoa Kỳ) và đăng tải khắp hoàn cầu, gây tai tiếng rất lớn cho tướng Loan, và nhất là gây bất lợi cho VNCH về phương diện ngoại giao.

2. Huế trước Mậu Thân
Thành phố bị Việt Cộng chiếm lâu nhất và bị thiệt hại nặng nhất về nhân mạng cũng như tài sản là thành phố Huế. Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Thừa Thiên, cách sông Bến Hải, ranh giới Bắc và Nam Việt, khoảng 80 cây số về phía nam. Các khuynh hướng chính trị của dân chúng Huế lúc đó có thể sơ lược như sau:̶̵
-Huế là kinh đô của Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn (1802-1945). Vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, vua Bảo Đại (1913-1997, trị vì 1925-1945), bị truất phế hai lần: Lần thứ nhất vào năm 1945, nhà vua bị Việt Minh áp lực và phải thoái vị. Lần thứ hai vào năm 1954, ông bị cuộc trưng cầu dân ý do ông Ngô Đình Diệm tổ chức ngày 23-10-1955, loại khỏi chức Quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam. Tuy vậy, ảnh hưởng của triều Nguyễn ở Huế vẫn còn khá mạnh, do con cháu của hoàng gia cũng như con cháu của những quan lại triều đình cũ còn sống ở Huế khá đông. Hội đồng Nguyễn Phúc tộc, hậu thân của Tôn nhơn phủ, dưới sự lãnh đạo tinh thần của Đoan Huy hoàng thái hậu (Đức bà Từ Cung), thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại, vẫn tiếp tục sinh hoạt. Vào thời điểm năm 1968 (mậu thân) những người nầy hy vọng cựu hoàng Bảo Đại, lúc đó cư ngụ ở Pháp, có thể đóng một vai trò quan trọng đáp ứng giải pháp hòa giải giữa các bên lâm chiến ở Việt Nam.̵
-Huế là trung tâm lâu đời của Phật giáo với những ngôi chùa danh tiếng như Báo Quốc, Từ Đàm, Thiên Mụ, Từ Hiếu, Tường Vân... Chùa Báo Quốc còn là một Phật học viện lớn nhất và lâu đời nhất miền Trung, nơi đào tạo nhiều tu sĩ Phật giáo sau nầy đi hoằng pháp và trụ trì các chùa trên toàn cõi VNCH. Các tăng sĩ Phật giáo xuất thân từ các chùa ở Huế như hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1899-1977), thượng tọa Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh (1921-1978), Thích Trí Thủ (1909-1984), giữ những chức vụ cao cấp trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, được thành lập theo Hiến chương ngày 4-1-1964, và được chính phủ thừa nhận bằng sắc luật số 14/5 ký ngày 14-3-1964. Một số lãnh tụ Phật giáo tranh đấu thường khuyến khích sinh viên học sinh biểu tình chống chính phủ, đòi hỏi hòa bình, trung lập.̵
-Huế cũng là nơi có Tòa Tổng giám mục, một địa phận Thiên Chúa giáo được thành lập vào năm 1850. Đại chủng viện Kim Long, thường được gọi là chủng viện Xuân Bích, do các tu sĩ dòng Sulpice (phiên âm là Xuân Bích) giảng dạy, chuyên đào tạo các linh mục. Tổng thống Ngô Đình Diệm, gốc người Quảng Bình nhưng sinh sống từ nhỏ tại làng Phú Cam, một khu vực Thiên Chúa giáo nổi tiếng ngoan đạo ở cố đô.̵
-Huế là địa bàn hoạt động khá mạnh của các đảng Việt Quốc và Đại Việt. Đại Việt đã từng tổ chức chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị), gần Huế để chống chế độ Diệm vào các năm 1954-1955.̵
-Tại Huế, tổng thống Ngô Đình Diệm đã thành lập viện đại học năm 1957. Viện đại học nầy là trung tâm văn hóa thu hút sinh viên khắp các tỉnh miền Trung về đây theo học. Sinh viên càng ngày càng đông, và thường tham gia cũng như tổ chức các cuộc biểu tình tại Huế chống chính phủ từ 1963 đến 1967. Huế là chốn cựu đô, nên hệ thống giáo dục ở đây lâu đời và rộng rãi. Ngoài trường Quốc Học được thành lập từ năm 1898, các trường khác cũng khá lâu đời và đông học sinh, kể cả các tư thục. Hơn nữa, phải kể thêm các trường do các tu sĩ đảm trách như hệ thống trường Bồ Đề của Phật giáo, và các trường Thiên Chúa giáo như trường Thiên Hựu (Providence), trường Bình Linh (Pellerin), và trường Thánh Tâm (Jeanne d’Arc).̵
Cũng tại Huế, “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” ra đời năm 1964 trong đó có một số giáo sư và giảng viên Viện đại học Huế như Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Cao Huy Thuần, Hoàng Văn Giàu... Báo Lập Trường của nhóm nầy ủng hộ những quan điểm hòa bình và trung lập của một số lãnh tụ Phật giáo tranh đấu miền Trung. Hội đồng nầy được xem là đã góp tay vào việc kích động các cuộc biểu tình dữ dội tại Huế chống Hiến chương Vũng Tàu của Nguyễn Khánh năm 1964.
Những cuộc biểu tình ở Huế thường do Tổng hội sinh viên Huế tổ chức. Sinh viên luôn luôn hăng hái và bồng bột. Trong giới sinh viên, có thể có sự trà trộn các phần tử thân cộng, hay cộng sản trá hình, mà sinh viên lúc đó không nhận chân được. Cao độ của các cuộc biểu tình nầy là cuộc đốt phá Phòng Thông tin Hoa Kỳ (U.S.I.S. = United States Information Services) tại Huế ngày 01/06/1966 trên đường Lý Thường Kiệt.
Khi chính quyền địa phương ra lệnh cấm biểu tình và cấm hô hào chống Mỹ, đồng thời đàn áp những cuộc xuống đường, thì một số nhà lãnh đạo Phật giáo ở Huế chống đối bằng cách kêu gọi Phật tử đưa bàn thờ Phật xuống đường để cản trở lưu thông trong thành phố vào đầu tháng 6-1966. Trật tự tại Huế và các tỉnh miền Trung được vãn hồi vào cuối tháng đó khi chính phủ trung ương gởi Thủy quân lục chiến và Cảnh sát dã chiến tăng viện, và thẳng tay dẹp tan các cuộc rối loạn. Sau sự kiện nầy, một số trí thức, thanh niên, sinh viên sợ bị chính quyền Sài Gòn bắt giam, đã bỏ trốn lên rừng chạy theo cộng sản.
Do tình hình Huế phức tạp như trên, phía cộng sản hy vọng Huế đủ chín mùi cho một cuộc tổng khởi nghĩa nếu cuộc tổng công kích xảy ra. Từ đó, cộng sản chuẩn bị khá kỹ lưỡng mặt trận Huế không khác gì mặt trận Sài Gòn.

3. Cuộc Tổng công kích
Trước Tết Mậu Thân, chỉ huy đặc khu Trị-Thiên-Huế (tức Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế) của Việt Cộng là thiếu tướng Trần Văn Quang. Trần Văn Quang cử Lê Minh, bí thư tỉnh uỷ đảng Lao Động (Cộng Sản) tỉnh Thừa Thiên-Huế, phụ trách mặt trận Trị-Thiên. Minh chia mặt trận Trị-Thiên thành 3 khu vực: mặt trận Quảng Trị giao cho Hồ Tú Nam phụ trách; mặt trận Phú Lộc (phía nam Thừa Thiên) giao cho một cán bộ tên Chi chỉ huy; còn mặt trận Huế, quan trọng nhất, do Lê Minh đích thân đảm nhận. Minh lại chia Huế thành hai điểm để tấn công: phía bắc Huế (tả ngạn sông Hương), và phía nam Huế (hữu ngạn sông Hương Huế)
Cánh quân phía bắc Huế do một người tên Thu chỉ huy, Trần Anh Liên làm chính uỷ. Lực lượng gồm có trung đoàn 6 (gọi là E-6, gồm có 3 tiểu đoàn), thêm 1 tiểu đoàn đặc công, 1 đại đội pháo và du kích hai quận Hương Trà và Hương Điền. Cánh quân nầy xuất phát đúng vào tối Giao thừa (29-1-1968) từ rừng núi tây Huế, chia làm 4 mũi đánh vào cửa Chính Tây (nằm về tay trái hoàng thành từ Kỳ đài nhìn vào), cửa An Hòa (cửa Tây Bắc), Kỳ đài (cột cờ trước Ngọ môn), sân bay Tây Lộc và đồn Mang Cá. Cộng quân làm chủ ngay được cửa Chính Tây, cửa An Hòa và Kỳ đài, nhưng thất bại ở sân bay Tây Lộc và đồn Mang Cá. Đồn Mang Cá lúc đó là nơi đặt bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh do chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng đứng đầu. Chính đồn Mang Cá là điểm tựa vững vàng để quân đội VNCH cũng như Đồng minh tổ chức phản công trở lại.
Qua cửa Chính Tây, Việt cộng tiến chiếm Đại nội. Việt cộng dùng bờ thành Đại nội để bảo vệ Kỳ đài, nơi đó, ngày 31-1 (mồng 2 Tết), Việt cộng treo một lá cờ lớn của MTDTGPMNVN.(14) Từ Kỳ đài, Việt cộng tiến quân theo mé bờ tả ngạn sông Hương (tức bờ phía bắc), chiếm đồn Cảnh sát chợ Đông Ba, bắt tay với một cánh cộng quân khác cũng của E-6, làm chủ hoàn toàn khu vực Đông Ba, Gia Hội.
Cánh quân phía nam Huế do Thân Trọng Một chỉ huy, Nguyễn Vạn làm chính uỷ. Lực lượng gồm có trung đoàn E-9 của sư đoàn 309, trung đoàn 5 (4 tiểu đoàn), 1 tiểu đoàn pháo, và 4 đội đặc công.(15) Cánh quân nầy dự định xuất phát tối Giao thừa (29/01), nhưng vừa xuất phát thì bị phi cơ thám thính Mỹ phát hiện và bị pháo kích, phải lẩn tránh nên tiến chậm. Sáng mồng 1 Tết (30/01) cánh quân nầy mới tiếp tục tiến về phía thị xã Huế.
Sau 4 ngày giao tranh, cộng quân chiếm gần hết vùng hữu ngạn thành phố Huế cho đến lao xá Thừa Phủ (gần sát tỉnh đường Thừa Thiên). Cộng sản thả khoảng 2, 000 tù nhân đang bị giam trong lao xá. Những người nầy liền được cộng sản võ trang để tiếp tay cho họ. Quân đội VNCH chỉ còn giữ đài Phát thanh, Tiểu khu Thừa Thiên, Bản doanh MACV (Military Assistance Command, Vietnam) đặt ở khách sạn Thuận Hóa, và bến tàu Hải Quân.(16)

4. Tổng khởi nghĩa thất bại
Về phương diện chính trị, ngay sau khi chiếm vùng tả ngạn (phiá bắc Huế, vùng chợ Đông Ba, Thành nội...), ngày mồng 2 Tết (31-1) cộng sản tiến hành tổ chức cầm quyền. Uỷ Ban Nhân Dân (danh xưng của cộng sản) trong Thành nội gồm hai quận, do Nguyễn Hữu Vấn (giáo sư âm nhạc), làm chủ tịch quận 1, và Nguyễn Thiết (sinh viên Đại học Luật khoa), làm chủ tịch quận 2. Phía hữu ngạn, cộng sản không thành lập kịp các uỷ ban nhân dân, chỉ chú tâm vào việc lùng bắt và kiểm soát tù hàng binh.
Ngày mồng 3 Tết (01/02/1968), đài phát thanh Hà Nội loan báo thành lập tổ chức Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ Và Hòa Bình tại Huế do Lê Văn Hảo, giáo sư Đại học Văn khoa Huế, làm chủ tịch, và Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng thư ký.(17) Đài phát thanh Hà Nội cũng thông báo ngày 14-2-1968, Lê Văn Hảo được đưa lên làm chủ tịch chính quyền cách mạng Huế, với hai phó chủ tịch là bà Đào Thị Xuân Yến (còn gọi là bà Tuần Chi), và Hoàng Phương Thảo (Thường vụ Thành uỷ cộng sản) (Chính Đạo, Mậu Thân, sđd.131).
Nguyễn Đắc Xuân, khi còn là sinh viên sống tại Huế, đã từng tổ chức đoàn “Phật Tử Quyết Tử” vào năm 1966 để chống chế độ “Thiệu Kỳ”, rồi bỏ trốn theo cộng sản, nay trở lại Huế, phụ trách đội “Công tác Thanh niên”. Xuân được cộng sản giao nhiệm vụ tổ chức “đoàn Nghĩa binh”, gồm những quân nhân Cộng Hòa bị kẹt trong vùng cộng sản tạm chiếm, gọi là “Quân nhân Sư đoàn 1 ly khai”. Ngày 4-2-1968 (mồng 6 Tết), đoàn nầy ra thông cáo đả kích chế độ “Thiệu Kỳ”, nhưng sau đó đoàn bị cộng sản phân tán ngay, vì sợ các quân nhân trong đoàn nầy quay lại chống cộng sản. Nguyễn Đắc Xuân còn tổ chức đội “Nghĩa binh Cảnh Sát”, giữ nhiệm vụ ngăn chận không cho dân di tản khi quân đội VNCH và Đồng minh phản công.
Những đơn vị an ninh của cộng sản hoạt động mạnh sau khi cộng quân tạm chiếm Huế. Những đơn vị nầy do một người tên Lê (Tư) điều khiển chung, còn Tống Hoàng Nguyên phụ trách tả ngạn, và Nguyễn Đình Bảy (Bảy Khiêm) lo phía hữu ngạn. Những đơn vị nầy truy lùng và bắt giết tất cả những nhân viên chính quyền VNCH và nhân viên làm việc tại các cơ quan Hoa Kỳ, hoặc những người cộng tác với Cơ quan tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA: Central Intelligence Agency). Chính những đơn vị an ninh nầy là tác giả của những cái chết thê thảm tại Huế, nhất là lúc cộng sản chuẩn bị rút lui.
Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế, đôi khi bị ép buộc phải dự những cuộc hội họp, mít tinh do cộng sản tổ chức, nhưng dân chúng không hưởng ứng cuộc tổng khởi nghĩa do công sản đề ra. Rõ nét nhất là dân chúng không đi theo du kích CS, mà bỏ chạy qua các vùng do quân đội VNCH kiểm soát ở khu vực Mang Cá, hay trường Kiểu Mẫu gần trường Đại Học Sư Phạm, nằm giữa Tiểu khu Thừa Thiên và Bến tàu Hải quân, hoặc khu vực phi trường Phú Bài, cách Huế khoảng trên 10 cây số về phía nam. Đặc biệt, chỉ trừ những quân nhân về thăm nhà bất ngờ bị du kích CS bắt được, có thể nói hầu hết các quân nhân đều kiếm cách liên lạc hay gia nhập các đơn vị tác chiến gần nhất để cầm súng chống CS, chứ không gia nhập hay chạy theo du kích CS. Các đơn vị hành chánh nhỏ cũng kiếm cách phòng thủ để chận đứng sự thâm nhập của du kích CS.Không tổ chức được cuộc tổng khởi nghĩa, Việt cộng còn bị quân đội VNCH và Đồng minh phản công, đẩy lui ra khỏi Huế. Cuộc phản công bắt đầu vào ngày mồng 3 Tết (01/02/1968). Ngày mồng 5 Tết (03/02), các chiến sĩ binh chủng Nhảy Dù tái chiếm cửa An Hòa. Cũng trong ngày nầy, Thủy quân lục chiến (TQLC) Hoa Kỳ đổ bộ ở Bến tàu Hải quân, đến đóng tại Bộ Chỉ huy MACV. Lo ngại cánh quân Hoa Kỳ từ hữu ngạn kéo sang tả ngạn, cộng quân đánh sập cầu Trường Tiền tối mồng 9 Tết (07/02/1968).
Quân đội VNCH đã cùng quân đội Hoa Kỳ phản công mạnh mẽ. Ngày 14-2-, tình hình hữu ngạn được xem là yên ổn, chỉ còn bộ chỉ huy của Thân Trọng Một trốn tránh tại vùng lăng Tự Đức cho đến ngày 25-2. Khi tình hình hữu ngạn được ổn định, lực lượng Dù Việt Nam rút vào Nam, và các chiến sĩ TQLC Việt Nam đến thay thế.Ngày 12/02, TQLC của cả quân Việt Nam lẫn Hoa Kỳ đổ bộ lên bến Bao Vinh, nằm trên bờ sông Gia Hội, gần đồn Mang Cá. Hai bên phối hợp mở “chiến dịch Sóng Thần 739/ 68” ngày 14-2, tảo thanh quân cộng sản còn lại trong Thành nội. Trận chiến càng ngày càng ác liệt, có khi hai bên chỉ cách nhau vài chục thước. Ngày 18-2, TQLC Hoa Kỳ chiếm được cửa Đông Ba (đường Mai Thúc Loan). Cộng quân đóng trong Thành nội chỉ còn liên lạc với cánh quân Gia Hội của họ bằng cửa Thượng Tứ.

Trước nguy cơ thất bại, cộng quân tính chuyện rút lui. Ngày mồng 8 Tết (6-2), cộng sản bắt đầu di chuyển thương binh, tù binh, chiến lợi phẩm ra khỏi Huế. Lúc đó, tại miền núi phía tây tỉnh Quảng Trị, cộng quân đã chiếm được Làng Vei, một vị trí chiến lược ở tiền đồn Khe Sanh ngày 7-2. Sau đó phi cơ Hoa Kỳ tái oanh tạc vùng phụ cận Hà Nội ngày 14-2, nên ngày 15-2, Quân uỷ Trung ương ở Hà Nội, gởi vào đảng uỷ cộng sản Thừa Thiên Huế một công điện nội dung như sau: “Phải giữ Thành nội, không được rút ra ngoài để phục vụ nhiệm vụ chính trị chung cả nước.” (Chính Đạo, Mậu Thân, sđd.146).
Tình hình càng lúc càng bất lợi cho cộng sản. Lê Minh, bí thư Thừa Thiên Huế, giữ trách nhiệm trực tiếp mặt trận Huế, tỏ ý muốn rút lui trong cuộc họp ngày 19/02, nhưng còn phải chờ lệnh trên. Quân đội VNCH và Đồng minh Hoa Kỳ đẩy dần quân cộng sản ra khỏi Thành nội. Sáng sớm 23/02, lá cờ VNCH tung bay trên kỳ đài thay thế cờ của MTDTGPMNVN. Quân đội VNCH và Đồng minh có thể nói đã làm chủ được tình hình Thành nội từ đây.Phía cộng sản, “về sau có lệnh: chuẩn bị rút lui lên vùng rừng núi phía Tây, cố bảo toàn lực lượng, mang theo đủ vũ khí chưa sử dụng đến. Khi lệnh rút lui ban bố vào đêm 25 tháng 2, một không khí có phần hoảng loạn diễn ra...” (18)Gia Hội là khu vực hoàn toàn dân sự, không có cơ sở quân sự, cơ sở hành chánh hay kinh tế gì quan trọng. Những nhà chỉ huy hành quân VNCH cũng như Đồng minh nghĩ rằng cần phải thanh toán trước những cứ điểm đầu não của cộng sản đang chiếm đóng Thành nội, thì tức khắc cộng quân ở vùng Gia Hội sẽ tự tan hàng rút lui. Mãi đến ngày 22/02, hai tiểu đoàn Biệt Động Quân của Quân lực VNCH mới được tung vào Gia Hội để đẩy lui cộng quân. Chính vì quân đội VNCH đến giải tỏa trễ, và cộng sản vùng Gia Hội đóng lại tại đây lâu, nên cộng sản có cơ hội tàn sát đồng bào nơi đây nhiều nhất trong thành phố Huế.


5. Cộng sản tàn sát đồng bào
Trong lúc hai bên đánh nhau, thống kê ước lượng cho thấy tại mặt trận Huế, quân đội VNCH có 384 tử trận, 1.830 bị thương; Bộ binh Mỹ 74 tử trận, 507 bị thương; Thủy quân lục chiến Mỹ 142 tử trận, 857 bị thương, Bộ đội Bắc Việt và Việt cộng khoảng 5, 000 tử trận, số bị thương không tính được.(19)
Trong chiến tranh, chiến sĩ các bên lâm chiến bị thương vong là chuyện không thể tránh khỏi, nhưng trong biến cố Mậu Thân (1968) tại Huế, rất nhiều nạn nhân bị cộng quân giết hại thảm khốc trong thời gian cộng sản tạm chiếm Huế, nhiều nhất là các nhân viên chính quyền, cảnh sát, binh sĩ và sĩ quan Quân lực VNCH đang nghỉ Tết, không ở vị trí chiến đấu, và một số khá lớn thường dân không cầm súng chống lại họ, chỉ chạy tỵ nạn chiến tranh.
Cho đến nay, không ai có thể kiểm kê đích xác số thường dân cũng như số người không ở vị trí chiến đấu (đang nghỉ Tết) bị phía cộng sản giết hại. Theo sự phân tích của ông Nguyễn Trân, một nhà hoạt động chính trị thời VNCH, đưa ra trong quyển hồi ký của ông ta thì:
“Về phía dân chúng, có 5.800 người chết, trong đó có 2.800 người bị Việt cộng giết và chôn tập thể: 790 hội viên các Hội đồng tỉnh, thị xã và xã bị gán cái tội “cường hào ác bá”, 1892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, hằng trăm thanh niên tuổi quân dịch, một linh mục Việt (Bửu Đồng), hai linh mục Pháp, một bác sĩ Đức và vợ, và một số Phi Luật Tân.” (20)

Nạn nhân cuộc Thảm sát Mậu Thân tại Huế. Thông tin từ The Vietcong Massacre at Hue, Elje Vannema, New York: Nxb. Vintage Press, 1976.Nguồn: Elje Vannema
Những con số trên đây có thể sai biệt chút ít, nhưng chắc chắn số thường dân cũng như số người nghỉ phép nhân dịp Tết tại Huế, bị giết chôn trong các hầm tập thể rất nhiều. Sau đây là thống kê tóm tắt số hài cốt tìm được trong các mồ chôn tập thể sau khi cộng quân rút lui do một bác sĩ người nước ngoài ghi lại: (21)


Toronto, Canada
(Còn tiếp)

__________________________________________________________________________________(14) Don Oberdorfer, sđd. tr. 230. Theo tài liệu của BNCLSĐ/H thì đây là cờ của Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình Việt Nam (Chính Đạo Mậu Thân, sđd. tr. 126). Trong bài tham luận mới nhất trình bày tại Huế ngày 15-12-2007, tác giả Nguyễn Đắc Xuân, theo tài liệu cũ của đảng bộ Huế, cũng cho rằng đây là cờ Liên minh. [Không ai lạ gì việc những người trong nước đều phải nói theo đảng CSVN.] Tuy nhiên, cần chú ý rằng ngày 31-1, tức là ngày treo cờ, Liên minh nầy chưa được thành lập, làm sao có cờ ? (xin xem thêm chú thích số 17.) Ở những nơi khác, Sài Gòn hay bất cứ thành phố nào ở miền Nam, không ai thấy hay biết gì về lá cờ Liên minh. Liên minh nầy chỉ là một mặt trận chính trị, giống như Mặt trận Tổ Quốc của Hà Nội, không thể được quân đội cộng sản treo cờ lên. Dò hỏi nhiều người sống trong thành nội Huế, chứng kiến tận mắt tại chỗ năm 1968, họ đều xác nhận là thấy cờ của MTDTGPMNVN.

(15) Dựa vào tài liệu của Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng, Thành uỷ Huế (BNCLSĐ/H), Huế, Xuân 1968, Huế 1988, do Chính Đạo trích dẫn, Mậu Thân, sđd. tr. 108-110.
(16) Bên hữu ngạn sông Hương (bờ nam), từ cầu Trường Tiền đi xuống, phía tay mặt là đài Phát thanh, phía tay trái, cách khoảng trên 500 thước là bến Hải quân (gần khách sạn Hương Giang). Đi thẳng từ cầu Trường Tiền về An Cựu, dọc theo đường Duy Tân (trước 1975) phía bên trái, cách cầu khoảng 500 thước là Tiểu khu Thừa Thiên và khách sạn Thuận Hóa, nơi đóng trụ sở của MACV (Military Assistance Command, Vietnam = Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự tại Việt Nam).
(17) Chính Đạo, MT. sđd. tr. 131. – Thụy Khê, "Nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu Thân ở Huế”, phỏng vấn trên đài RFI, 12-7-1997, đăng lại trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 36, tháng 8-9-1997, tt. 197-200.[Có một điểm cần phân biệt, Lê Văn Hảo làm chủ tịch Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ Và Hòa Bình tại Huế. Còn trên toàn miền Nam, ban chấp hành Liên Minh nầy do cộng sản đưa ra ngày 10-4-1968 gồm thành phần sau đây: Chủ tịch: Luật sư Trịnh Đình Thảo; Phó chủ tịch: Lâm Văn Tết (Nam phần), hòa thượng Thích Đôn Hậu (Trung phần); Tổng thư ký: giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ; Phó tổng thư ký: bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Lê Hiếu Đằng; Uỷ viên: Nguyễn Văn Kiết, Huỳnh Văn Nghi, Thanh Nghị (nhà soạn từ điển), Trần Triệu Luật (sinh viên).(Theo tài liệu CĐ, MT, sđd. tr. 353)].
(18) Thành Tín [Bùi Tín], Mặt thật, hồi ký chính trị, California: Nxb. Saigon Press, 1993, tr. 184.
(19) David T. Zabecki, "Huê, Battle of (1968)", đăng trong Encyclopedia of the Vietnam War, a political, Social, and Military History, California: Volume 1, Spencer C. Tucker chủ biên, 1998, tr. 304.
(20) Nguyễn Trân, Công và tội, những sự thật lịch sử, Nxb. Xuân Thu, California,1992, tr. 642. [Trong sách Thảm sát Mậu Thân ở Huế, tuyển tập - tài liệu, Phong trào Giáo dân Việt Nam Hải ngoại (PTGDVNHN), California, in lần thứ 2, 1999, tt. 85-86, 94-99, 135-136 thì: Hai linh mục Pháp là: Urbain, 52 tuổi và Guy 48 tuổi bị bắt ở tu viện Thiên An và bị dẫn đi ngày 25-2; sau xác tìm được ở gần lăng Đồng Khánh. Bốn người Đức bị giết là: bác sĩ và bà Hort Gunther Krainick, bác sĩ Raimund Discher, và bác sĩ Alois Alterkoster. Ba bác sĩ Tây Đức nầy tình nguyện đến dạy tại Đại học Y khoa Huế. Cả 4 người nầy đều bị bắt ngày 5-2-1968.]
(21) PTGDVNHN, sđd. tr. 222. Số liệu nầy rút ra từ sách The Vietcong Massacre at Hue của bác sĩ Elje Vannema, New York: Nxb. Vintage Press, 1976. Bác sĩ Elje Vannema, sinh năm 1932 tại Hòa Lan, nhập tịch Canada, dạy Đại học Y khoa New York. Lúc xảy ra biến cố Mậu Thân, ông có mặt tại Huế, và viết lại những điều tai nghe mắt thấy. (Thông tin của tác giả Phạm Hồng Lam, gởi cho người viết bài nầy ngày 11-11-2000. Xin cảm ơn ông Phạm Hồng Lam).

Tàn sát Tết Mậu Thân tại Huế (1968) (Phần I)

Tàn sát Tết Mậu Thân tại Huế (1968) (Phần I)

Trần Gia Phụng

I. Tình hình chung

Biến cố Tết Mậu Thân (1968) được Cộng Sản Việt Nam (CSVN) gọi là “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa” (General Offensive and General Uprising). “Tổng công kích” là một từ ngữ trong lý thuyết cách mạng cộng sản Trung Hoa, còn “tổng khởi nghĩa” là từ ngữ Việt Nam chỉ những cuộc nổi dậy chống ngoại xâm trong lịch sử, và đã được Việt Minh sử dụng để gọi việc chiếm chính quyền của họ vào năm 1945.
Dầu chịu ảnh hưởng lý thuyết lấy nông thôn bao vây thành thị của Mao Trạch Đông (1893-1976), nhưng trước tình hình biến chuyển mau lẹ vào giữa thập niên 60 ở Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tức Nam Việt, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tức Bắc Việt muốn đốt giai đoạn, thay đổi chiến thuật, quyết tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở các thành phố miền Nam, để thực hiện những tính toán chiến lược trong công cuộc xâm lăng miền Nam..
Việc Nikita Khrushchev (1894-1971) bị đảo chánh ở Liên Xô ngày 15/10/1964 là một biến cố rất thuận lợi cho VNDCCH. Khrushchev chủ trương hòa dịu với các nước tây phương và sống chung hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. Chính phủ Liên Xô dưới thời Khrushchev, vào đầu năm 1957, đã đưa ra đề nghị hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt, nhưng bị nhà cầm quyền VNDCCH quyết liệt phản đối.
Trong khi đó, VNDCCH quyết dùng võ lực để xâm chiếm VNCH. Khi biến cố Maddox xảy ra trong vịnh Bắc Việt vào tháng 8-1964, Hoa Kỳ leo thang chiến tranh, oanh tạc Bắc Việt.(1) Ban lãnh đạo mới của Liên Xô gồm tam đầu chế Leonid Brezhnev (1906-1982), Alexei Kosygin (1904-1980) và Nicolay Podgorny (1903-1983) muốn lôi kéo Bắc Việt về phía mình trong cuộc tranh chấp giữa Liên Xô và Trung Hoa, liền tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ Bắc Việt trong trường hợp Bắc Việt bị Hoa Kỳ tấn công. Tháng 2-1965, thủ tướng Liên Xô Kosygin viếng thăm Hà Nội.
Để đáp lễ và tiếp tục cuộc thương thảo, tháng 4-1965, Lê Duẩn (1907-1986), bí thư thứ nhất đảng Lao Động Việt Nam (LĐVN) cầm đầu phái đoàn sang Moscow. Trong dịp nầy, một thỏa ước viện trợ đã được ký kết; đồng thời Liên Xô đồng ý cho một tổ chức do đảng LĐVN lập ra để điều khiển chiến tranh ở miền Nam là Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) đặt văn phòng liên lạc tại Moscow.(2)
Tuy chưa chính thức thừa nhận về mặt ngoại giao theo công pháp quốc tế, nhưng việc Liên Xô chấp thuận cho MTDTGPMNVN đặt văn phòng liên lạc tại Moscow, có nghĩa là Liên Xô xác nhận sự hiện diện của mặt trận nầy tại miền Nam Việt Nam, khởi đầu cho việc tăng cường viện trợ quân sự cho Bắc Việt cũng như MTDTGPMNVN theo chủ trương can thiệp mới của Liên Xô, mà sau nầy các nước Tây phương gọi là chủ thuyết Brezhnev. Từ đó, vũ khí Liên Xô được đưa vào chiến trường miền Nam để trang bị cho lực lượng cộng sản. Nhiều quan sát viên ghi nhận rằng các loại vũ khí nầy tối tân hơn các loại vũ khí còn sót lại sau thế chiến thứ hai (1939-1945), mà Hoa Kỳ trang bị cho quân lực VNCH cho đến năm 1968.
Về phía VNCH, từ cuối năm 1963, tình hình chính trị xáo trộn mạnh sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm (1901-1963) bị sát hại ngày 02/11/1963, cùng với sự hủy bỏ luôn hiến pháp ngày 26/10/1956 do tổng thống Diệm ban hành. Điều nầy gây ảnh hưởng chính trị tai hại là chấm dứt tính cách hợp hiến hợp pháp liên tục của chính quyền dân sự, tức nền Đệ nhất Cộng Hòa, ở miền Nam Việt Nam từ khi đất nước bị chia hai sau 1954, và gây khoảng trống hiến pháp, đưa đến nhiều rối loạn về chính trị do sự cầm quyền của giới quân sự, vì giới nầy không phải do dân chúng bầu ra, nên không thể đại diện cho dân chúng được.
Các tướng lãnh lật đổ ông Diệm lại không đủ khả năng quản lý đất nước, làm cho chính sự càng ngày càng rối ren. Trung tướng Dương Văn Minh (1916-2001) cầm quyền chẳng được bao lâu thì bị trung tướng Nguyễn Khánh thay thế ngày 29/01/1964. Ông Khánh gặp nhiều chống đối, nhất là từ sau khi ông tuyên bố Hiến chương ngày 16/08/1964, thường được gọi là Hiến chương Vũng Tàu. Những cuộc biểu tình dữ dội, nhất là của giới Phật giáo, khiến ông Khánh phải hủy bỏ hiến chương nầy ngày 25/08/1964. Những âm mưu đảo chánh liên tiếp diễn ra, trong đó quan trọng nhất là ngày 13/09/1964, tướng Lâm Văn Phát và tướng Dương Văn Đức đem quân về thủ đô Sài Gòn “biểu dương lực lượng” rồi rút lui, và ngày 19-2-1965, tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo (?-1965) đảo chánh, nhưng bị dẹp yên ngay.
Trong thời gian nầy, biểu tình xảy ra liên tục trên toàn quốc do các phe phái chính trị, các phong trào đòi hỏi hòa bình, và nhất là các giáo phái tổ chức. Bàn thờ Phật cũng được đưa “xuống đường” tại các thành phố lớn ở miền Trung như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn vào tháng 06/1966.
Tình hình chính trị ổn định lại dần dần với việc bầu cử Quốc hội Lập hiến ngày 11/09/1966. Bản hiến pháp mới được ban hành ngày 01/04/1967, hình thành nền Đệ nhị Cộng Hòa. Cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên nền Đệ nhị Cộng Hòa ngày 03/09/1967 đưa đến việc liên danh các tướng Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ đắc cử tổng thống và phó tổng thống, chấm dứt giai đoạn khủng hoảng chính trị kéo dài từ sau ngày tổng thống Diệm bị sát hại, nhưng lại đưa đến sự chuyên chính của giới quân nhân.
Điều làm cho Bắc Việt bất ngờ nhất là sau biến cố chiến hạm Maddox bị tấn công ở vịnh Bắc Việt hai ngày 2 và 04/08/1964, lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ đưa ra “Quyết nghị vịnh Bắc Việt” (The Gulf of Tonkin Resolution) ngày 07/08/1964 hoàn toàn ủng hộ tổng thống Lyndon Johnson (1908-1973) trong việc mở rộng chiến tranh Việt Nam.
Từ đó, Hoa Kỳ đưa quân tham chiến trực tiếp vào Việt Nam, và quân số Hoa Kỳ tăng gia nhanh chóng, từ khoảng trên 20,000 cố vấn và chuyên viên cuối năm 1964, lên đến 486,000 quân cuối năm 1967.(3) Đó là chưa kể quân số của các nước Đồng minh như Đại Hàn, Phi Luật Tân, Thái Lan, Úc Đại Lợi lên đến vài chục ngàn người. Về phía VNCH, quân số cũng gia tăng nhanh chóng để đáp ứng tình hình chiến sự càng ngày càng gia tăng.(4) Chiến tranh lan rộng ra Bắc với những phi vụ oanh tạc các cơ sở quân sự, những trục lộ giao thông quan trọng, kể cả những thành phố lớn. Nhà cầm quyền Bắc Việt rất lo ngại quân đội Hoa Kỳ và VNCH đổ bộ vùng bờ biển hoặc tấn công Hà Nội. Một thủ đô bí mật được thiết lập đâu đó trong vùng rừng núi Bắc Việt để sử dụng trong trường hợp Hà Nội và những trọng điểm Bắc Việt bị không quân tấn công hoặc tiêu hủy.(5)

Ở trong Nam, lợi dụng sự bất ổn chính trị của VNCH kéo dài từ sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ năm 1963 cho đến 1966, MTDTGPMNVN đã phát triển mạnh mẽ được một thời gian. Khi VNCH trên đường ổn định trở lại dần dần từ khi Hoa Kỳ đưa quân tham gia trực tiếp chiến tranh Việt Nam, nhất là từ khi bầu cử Quốc hội Lập hiến năm 1966, MTDTGPMNVN bị suy thoái trở lại.
Một hiện tượng xã hội ít được chú ý là do chiến tranh càng ngày càng gia tăng cường độ, vùng nông thôn xôi đậu bất ổn, nên mỗi năm có khoảng từ 500,000 đến 1 triệu dân nông thôn tránh bom đạn, bỏ ra thành thị tỵ nạn, sinh sống dưới sự kiểm soát của chính quyền VNCH (Don Oberdorfer, sđd.53). Điều nầy về lâu về dài gây nhiều thiệt hại cho du kích cộng sản. Cộng sản không có dân chúng để trà trộn trốn tránh, cũng không có dân chúng để tiếp tế nuôi ăn, lại thiếu thanh thiếu niên để bắt lính, và một số cán binh cộng sản bỏ về thành theo gia đình hoặc quy thuận chính phủ Quốc gia theo chính sách chiêu hồi, làm cho bộ đội du kích cộng sản càng ngày càng hao hụt.
Lúc đó, giới lãnh đạo Bắc Việt nhận định rằng sau ba năm xáo trộn, với nhiều cuộc biểu tình khắp các thành phố miền Nam, tình hình đủ chín mùi để có thể kêu gọi dân chúng tổng khởi nghĩa như tháng 8-1945 ở Hà Nội. Nếu để chính quyền VNCH ổn cố trở lại, thì càng ngày càng bất lợi cho MTDTGPMNVN, cho nên Bắc Việt quyết định tổ chức tổng công kích, bất ngờ đánh chiếm các thành thị miền Nam, rồi kêu gọi dân chúng nổi lên tổng khởi nghĩa.
Cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa do cộng sản Hà Nội chủ trương nhắm các mục đích sau:
– Chiếm chính quyền, phá huỷ hệ thống chính quyền VNCH, tạo bất ổn khó khăn cho VNCH.
– Trực diện đối đầu với Hoa Kỳ, CSVN ước tính khó có thể thắng được quân đội Hoa Kỳ, trang bị vũ khí tối tân và hùng hậu hơn quân đội Pháp trước đây rất nhiều. Do đó, CSVN cần gây tiếng vang lớn trên thế giới và tại Hoa Kỳ, để lung lạc và làm chia rẽ dân chúng Hoa Kỳ. Năm 1968 là năm tranh cử tổng thống Hoa Kỳ, tình hình chính trị Hoa Kỳ rất nhạy cảm. Dân chúng Hoa Kỳ bị kích động vì cuộc tổng công kích, sẽ đẩy mạnh phong trào hòa bình và phản chiến tại Hoa Kỳ. Một khi hậu phương Hoa Kỳ bất ổn thì quân sĩ Hoa Kỳ ở tiền tuyến sẽ giảm ý chí chiến đấu. Chỉ có thế mới mong Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam.
– Sửa soạn một thế mạnh để nói chuyện trên bàn hội nghị, vì lúc đó các dàn xếp quốc tế đã sẵn sàng cho cuộc hòa đàm giữa các bên lâm chiến. (Trên thực tế, cuộc hòa đàm bắt đầu vào tháng 05/1968.)
– Đưa chiến tranh vào thành phố sẽ làm cho dân nông thôn chạy ra thành thị quay trở về nông thôn, vì từ nay thành thị cũng bị tấn công mất an ninh như nông thôn, đồng thời chận đứng làn sóng dân chúng di chuyển từ nông thôn ra thành thị, gỡ rối cho hạ tầng cơ sở ở nông thôn của MTDTGPMNVN;
– Chận đứng việc hồi chánh của một số phần tử trong MTDTGPMNVN, vốn không phải là đảng viên cộng sản, mà chỉ là những người bất mãn với chế độ Ngô Đình Diệm, muốn quay trở lại với VNCH khi ông Diệm bị lật đổ. Ngay sau biến cố ngày 2-11-1963, đáng lẽ những người nầy tìm về phía VNCH, nhưng vì Sài Gòn bị xáo trộn liên tục, làm gián đoạn các đường liên lạc, khiến họ chưa hồi chánh kịp.
– Nếu cuộc tổng công kích thất bại, và chủ lực của MTDTGPMNVN bị tiêu diệt, đối với đảng LĐ ở Hà Nội cũng là điều rất có lợi, vì lý do sau đây: Khi mới thành lập, MTDTGPMNVN gồm đa số là đảng viên cộng sản miền Nam và những người bất mãn chế độ miền Nam bỏ theo Mặt trận. Đảng LĐ ngoài Bắc không mấy tin tưởng va không kiểm soát được cả hai thành phần nầy. Nếu chủ lực MTDTGPMNVN bị VNCH tiêu diệt, thì đây sẽ là cơ hội tốt để đảng LĐ gởi người từ miền Bắc vào thay thế, nắm gọn và điều khiển hẳn toàn bộ MTDTGPMNVN, mà không bị tranh chấp nội bộ gay go.(6)
Với những tính toán trên, dầu cuộc tổng công kích thắng hay bại, đàng nào đảng LĐ ở Hà Nội cũng đều có lợi, nên họ đã không ngần ngại hy sinh lá bài MTDTGPMNVN trong mưu đồ thôn tính VNCH. (Về sau, ngay khi cưỡng chiếm được miền Nam năm 1975, Hà Nội liền loại bỏ ngay nhóm lãnh đạo MTDTGPMNVN và giải thể Mặt trận nầy một năm sau đó.)

II. Những biến chuyển trước Tết Mậu Thân

Vào đầu tháng 07/1967, tại Hà Nội, các cuộc họp quan trọng của Bộ chính trị và Quân uỷ Trung ương đảng LĐ, đã duyệt y kế hoạch phát động cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa vào dịp Tết Mậu Thân (1968) (Don Oberdorfer, sđd.54). Trong thời gian nầy, tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967) chết ngày 6-7-1967, Võ Nguyên Giáp thay Nguyễn Chí Thanh tiếp tục thảo kế hoạch tấn công. Phạm Hùng (1912-1988) được gởi vào Nam để thay thế Nguyễn Chí Thanh, giữ chức bí thư Trung ương cục miền Nam, điều khiển cuộc chiến.(7)

Tại Bắc Việt, giữa năm 1967, đảng LĐ ra tay lần chót, lần lượt bắt giam tất cả những thành phần theo chủ trương hòa dịu giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau của Khrushchev, tức những thành phần không đồng ý với cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam. Lãnh đạo đảng LĐ lúc đó gán cho họ tội danh là thành phần “xét lại”, âm mưu “chống đảng”. Đó là các ông Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang, và khoảng 40 nhân vật khác, trong đó có cả trí thức, văn nghệ sĩ.
Nhân dịp lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười Liên Xô, Lê Duẩn, bí thư thứ nhất đảng LĐ, cùng hai uỷ viên Bộ chính trị là Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Quốc phòng và Nguyễn Duy Trinh, bộ trưởng Ngoại giao lên đường vào cuối tháng 10-1967 qua Moscow dự lễ. Trên đường đi, phái đoàn nầy đã ghé qua Bắc Kinh xin quân viện, trình bày kế hoạch mới theo quyết định của Bộ chính trị VNDCCH vào tháng 7, đã được Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) hứa gởi qua Bắc Việt 300,000 lính phòng không và công binh,(Chính Đạo, Mậu Thân, sđd. tr. 32.) cung cấp hoả tiễn 107 ly, 240 ly, quân dụng, lương khô, thuốc men. Tại Moscow, Liên Xô chấp thuận cho Bắc Việt thêm đại bác 130 ly, chiến xa T54, phản lực cơ Mig 21 và các loại vũ khí nặng khác.(8) Cũng trong dịp nầy, để chứng tỏ một lần nữa tình thân thiện Xô Việt, những nhà lãnh đạo Xô Viết quyết định tặng Hồ Chí Minh huân chương Lenin.(9)
Từ khi chiến tranh Việt Nam mở rộng, Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, dùng không quân tấn công Bắc Việt, nhiều chiến dịch ngoại giao khắp nơi trên thế giới tìm cách chấm dứt tranh chấp. Vào năm 1967, Bắc Việt cho biết chỉ thương thuyết khi Hoa Kỳ ngưng ném bom vô điều kiện Bắc Việt. Hoa Kỳ trả lời sẵn sàng ngưng ném bom với điều kiện Bắc Việt không được lợi dụng thời gian ngưng ném bom để xâm nhập quân đội vào miền Nam Việt Nam.
Trong khi việc ngoại giao còn là quả bóng thăm dò qua lại giữa các bên, thì ngày 17/11/1967, nhâ n dịp năm hết Tết đến, MTDTGPMNVN đưa ra đề nghị hưu chiến 3 ngày trong dịp lễ Giáng Sinh năm 1967, 3 ngày lễ Tết dương lịch năm 1968 và 7 ngày Tết âm lịch Mậu Thân (Don Oberdorfer, sđd. 70). Chính phủ VNCH ra thông báo ngày 15/12/1967 sẽ hưu chiến 24 giờ trong dịp lễ Giáng Sinh và Tết dương lịch, hưu chiến 48 giờ trong dịp Tết âm lịch (Chính Đạo, Mậu Thân, sđd. 342).
Để làm lạc hướng dư luận và sự tính toán của các giới lãnh đạo Hoa Kỳ cũng như VNCH, cộng sản dịu giọng vào đầu năm 1968. Vào dịp Tết dương lịch 1968, bộ trưởng Ngoại giao Bắc Việt là Nguyễn Duy Trinh tuyên bố muốn mở các cuộc hòa đàm và tiếp xúc mật với Hoa Kỳ. Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng (1906-2000) cũng ngỏ ý sẵn sàng hòa đàm nếu Mỹ ngưng ném bom, và ông Đồng còn nhờ một viên đại diện Romania làm trung gian dàn xếp giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt.(10) Hà Nội loan báo sẽ thả ba tù binh Hoa Kỳ vì lý do nhân đạo để đáp ứng những nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam (Chính Đạo, Mậu Thân, sđd. tr. 17).
Tại Bắc Việt, chính phủ VNDCCH ra Quyết định số 121/ CP ngày 08/08/1967 thay đổi âm lịch để Bắc Việt ăn Tết trước Nam Việt một ngày, và thông báo khuyên dân chúng nên ăn Tết “vui tươi nhưng tiết kiệm, bình thường, không rườm rà, lành mạnh phù hợp với hoàn cảnh thời chiến.” (Don Oberdorfer, sđd.72.) Việc định thay đổi âm lịch vào thời điểm nầy có những tính toán chính trị và quân sự riêng của Bắc Việt.
Tại Nam Việt, từ ngày 01/11/1967 diễn ra trận đánh đẵm máu kéo dài nhiều ngày tại Lộc Ninh, thuộc tỉnh Phước Long. Đến gần Tết âm lịch, Việt Cộng tung quân tấn công các cứ điểm quân sự ở Cao nguyên Trung phần, và đưa ba sư đoàn chính quy là 325C, 304 và 308 bao vây và pháo kích dữ dội Khe Sanh (Quảng Trị), gần vùng giới tuyến giữa hai miền Nam Bắc, từ ngày 20/01/1968. Các nhà lãnh đạo VNCH, Hoa Kỳ, và cả thế giới nữa, rất quan tâm đến tình hình Khe Sanh, và lo lắng một cuộc đọ sức lớn lao sắp bùng nổ tại đây giữa hai bên như một Điện Biên Phủ mới.(11)
Trong khi đó, Việt Cộng âm thầm tiếp tục chuẩn bị các cuộc tấn công vào thành phố. Ngày 2-1-1968, tại Cao nguyên Trung phần, quân đội Hoa Kỳ tịch thu được một tài liệu có đầy đủ kế hoạch cộng sản tấn công Pleiku và Kontum. Ngày 15/01, tại Khe Sanh, một sĩ quan cộng sản hồi chánh cho biết sẽ có chiến dịch lớn tại vùng giới tuyến.
Với nhiều tin tức tình báo khác, Bộ tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam ra lệnh báo động và thông báo cho phía VNCH biết, đồng thời yêu cầu VNCH hủy bỏ lệnh hưu chiến nhân dịp Tết nguyên đán, nhưng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) và đại tướng Cao Văn Viên (1921-2008), tổng tham mưu trưởng quân đội VNCH, chỉ đồng ý bãi bỏ hưu chiến tại Vùng 1 chiến thuật, và rút bớt 24 tiếng đồng hồ hưu chiến trên toàn quốc.(12)
Một dấu hiệu nữa về việc Việt Cộng sẽ tổng tấn công trong dịp Tết là tại Bình Định (thuộc Quân đoàn 2 và Vùng 2 chiến thuật VNCH), nhà cầm quyền bắt được trước sau 10 cán bộ cộng sản với những tài liệu quan trọng ngày 29-1-1968 (30 Tết), trong đó có cả máy ghi âm sẵn lời phát thanh kêu gọi dân chúng tổng khởi nghĩa. Tỉnh trưởng Bình Định đã báo cáo vụ việc lên thượng cấp, nhưng bộ Tư lệnh Vùng 2 không mấy quan tâm. Vị tướng tư lệnh vùng nầy là Vĩnh Lộc lại bỏ về Sài Gòn ăn Tết.
Lúc đó, dư luận chung ở trong cũng như ngoài nước tin tưởng sự hiện diện của gần 500,000 quân Mỹ tại Việt Nam sẽ bảo đảm an toàn cho VNCH. Hơn nữa, do cộng sản vừa tuyên truyền vừa chuyển quân đe dọa Khe Sanh, nên mọi người chú tâm đến trận chiến ở đây, mà ít chú ý đến những diễn tiến chung quanh các thành phố rộn rịp khác thường trong những ngày trước Tết.
Về phía Hà Nội, sau sáu tháng điều nghiên, chuẩn bị, ngày 21/01/1968, Bộ chính trị đảng LĐ họp lần chót quyết định tổng công kích đêm Giao thừa Tết Mậu Thân tại miền Nam (đêm 29 rạng 30-1-1968). Họ đã dùng đài phát thanh Hà Nội ra lệnh tổng công kích bằng bài thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh đọc vào tối Giao thừa ở ngoài Bắc, tức tối 28/01/1968. Hà Nội đã sửa lại âm lịch, nên Tết Mậu Thân Bắc Việt trước Nam Việt 24 giờ đồng hồ. Nhờ vậy, lệnh tổng công kích của Hồ Chí Minh đến khắp các đơn vị du kích CS vào ngày 30 tháng Chạp ở miền Nam, đủ thời gian cho các đơn vị du kích CS xuất quân vào ngày Mồng Một Tết. Sự việc nầy cho thấy quyết định đổi âm lịch ở ngoài Bắc của CSVN nhắm mục đích rõ ràng cho cuộc tổng công kích ở miền Nam. Nguyên văn bài thơ làm hiệu lệnh tấn công của Hồ Chí Minh như sau:
“Mừng xuân 1968Xuân nầy hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp mọi nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.” (13)
Lúc đó, dù tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh giảm hưu chiến còn 24 giờ trên toàn quốc, và bãi bỏ hưu chiến ở vùng Vùng 1 Chiến thuật, nhưng nói chung, mọi nơi đều nô nức đón Tết, nên việc canh phòng có phần lơ là và quả thật cuộc tổng công kích của Việt Cộng là một trận đánh hoàn toàn bất ngờ với dân chúng miền Nam. Theo tác giả James J. Wirtz trong sách The Tet Offensive, Nxb. Cornell University Press, New York, 1991, tr. 28, thì cuộc “Tổng công kích” Tết Mậu Thân là một trong ba biến cố bất ngờ nhất trong cuộc chiến Việt Nam từ 1954 đến 1975.
(Toronto, Canada)
(Còn tiếp)

(1) Theo tài liệu Hoa Kỳ, nguyên chiến hạm Maddox của Hoa Kỳ, trong khi đi tuần tra, bị chiến hạm cộng sản tấn công hai lần vào hai ngày 2 và 4-8-1964, trong hải phận quốc tế ở Vịnh Bắc Việt. Bắc Việt và Hoa Kỳ đổ lỗi cho nhau đã gây hấn trước. Lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ đưa ra "Quyết nghị vịnh Bắc Việt" (The Gulf of Tonkin Resolution) ngày 7-8-1964 hoàn toàn ủng hộ tổng thống Lyndon B. Johnson (1908-1973) trong việc mở rộng chiến tranh Việt Nam. Ngày 1-12-1964, tổng thống Johnson công bố kế hoạch dội bom Bắc Việt. Như thế là không tuyên chiến, Hoa Kỳ đưa quân tham dự hẳn vào chiến tranh Việt Nam chứ không còn chỉ giữ vai trò cố vấn cho Quân đội VNCH như trước nữa.

(2) Robin Edmonds, Soviet Foreign Policy, The Brezhnev Years, New York: Nxb. Oxford University, 1983, tr. 45.(
3) Đoàn Thêm, 1967 (việc từng ngày), Sài Gòn: Cơ sở xb. Phạm Quang Khai, 1968, tr. 322.
(4) Theo Nguyễn Đình Tuyến, Những biến cố lớn trong 30 năm chiến tranh tại Việt Nam 1945-1975, Houston: Nxb. Đại Học Đông Nam, 1995, tr. 122, thì cuối năm 1964, quân đội VNCH có 265,000 quân chính quy và 290, 000 địa phương quân. Theo Chính Đạo, Mậu Thân 68: thắng hay bại, Houston: Nxb. Văn Hóa [tái bản lần thứ hai], 1998 (viết tắt: CĐ, MT, sđd.số tr.), thì quân số VNCH tháng 9-1967 là 622,000 quân kể cả địa phương quân, nghĩa quân (tr. 340).
(5) Don Oberdorfer, Tet!, New York: Nxb. Da Capo, 1984, tr. 54. (Viết tắt: Don Oberdorfer, sđd.tr.)
(6) Sau nầy, một số nhân vật trong MTDTGPMNVN công khai tố cáo âm mưu nầy của đảng LĐ, trong đó có bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, một trí thức miền Nam trong Mặt trận.(Chính Đạo, Mặt Thật, sđd. tr. 165.)
(7) James J. Wirtz, The Tet Offensive, New York: Cornell University Press, 1994, tr. 52.
(8) Hoàng Lạc, Hà Mai Việt, Nam Việt-Nam, 1954-1975, những sự thật chưa hề nhắc tới, Texas: 1990, tr. 77.
(9) Ralph Smith, “Thập niên cuối cùng của cuộc đời Hồ Chí Minh”, Lê Đình Thông dịch, đăng trong tuyển tập nhiều tác giả, Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Paris: Nxb. Nam Á, 1990, tr. 125.
(10) Hoàng Lạc, Hà Mai Việt, sđd. tt. 77-78.
(11) Johm S. Bowman, The Vietnam War: Day by Day, New York: Mallard Press, 1989, tr. 118.
(12) Chính Đạo, MT. sđd. tt. 31-32, 344. Trước năm 1975, VNCH được chia thành 4 vùng chiến thuật: Vùng 1 CT: từ Quảng Trị vào đến Quảng Ngãi; Vùng 2 CT: từ Bình Định đến Bình Thuận và Cao nguyên từ Kontum xuống tới Di Linh; Vùng 3 CT: từ Biên Hòa tới phiá Bắc sông Tiền; Vùng 4 CT: từ Mỹ Tho tới Cà Mau.
(13) Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn tuyển chọn, Thơ Hồ Chí Minh, Nxb. Nghệ An, 1995, tr. 170.

Friday, November 16, 2007

Một số bí quyết khi truy cập, gửi, nhận thông tin trên internet

Một số bí quyết khi truy cập, gửi, nhận thông tin trên internet
2007.11.15
Trà Mi, phóng viên đài RFA
Làm thế nào để truy cập, gửi, nhận, hay phổ biến thông tin trên mạng internet một cách an toàn? Một câu hỏi tuy đơn giản đơn giản nhưng được người dân ở các nước siết chặt quản lý internet như Việt Nam hết sức quan tâm, nhất là giới trẻ khao khát tự do thông tin, tự do tiếp cận với thế giới mở bên ngoài.


TOR, công cụ giúp bảo mật thông tin do các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ phát triển.
Để giúp qúy vị và các bạn tìm lời giải đáp, Trà Mi có cuộc trao đổi với ông Ethan Zuckerman, chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu về internet và xã hội Berkman, thuộc trừơng luật Harvard, tại Hoa Kỳ.
Ông Zuckerman là ngừơi góp mặt trong rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm phát triển tính hữu dụng của công nghệ thông tin phục vụ xã hội dân sự và quyền tự do thông tin của con người. Ông đã được trao rất nhiều giải thưởng và danh hiệu cao quý về những cống hiến cho nhân loại trong lĩnh vực này. Trong số này có danh hiệu “Nhà lãnh đạo tương lai của toàn cầu” vào năm 2003 và “Nhà lãnh đạo trẻ của toàn cầu” vào năm 2005.
Gửi, nhận email ở Việt Nam
Trà Mi: Các hoạt động trao đổi thông tin trên mạng có thể chia thành hai dạng chính như trao đổi, phổ biến thông tin, phát biểu ý kiến qua email hay blog, hoặc tìm kiếm, cập nhật thông tin bên ngoài bằng các công cụ vựơt tường lửa. Trước hết, nói về phương tiện phổ biến nhất hiện nay là email, xin được hỏi ông làm cách nào để sử dụng email một cách an toàn nhất?
Ông Ethan Zuckerman: Tại một quốc gia như Việt Nam, nơi internet bị nhà nước quản lý chặt chẽ, thì các cư dân mạng, đặc biệt là những ai muốn tự do truy cập thông tin hay bày tỏ quan điểm trên mạng, phải đối diện với rất nhiều rủi ro và đàn áp từ phía chính quyền.
Vì vậy, đăng ký sử dụng các tài khoản email từ các nhà cung cấp dịch vụ email miễn phí như yahoo hay hotmail chẳng hạn quả thật là không an toàn. Các nhà cung cấp này có thể giao nộp thông tin cá nhân và nội dung trao đổi thư từ của bạn cho an ninh mạng, nếu đựơc yêu cầu.
Hiện nay có những nhà cung cấp email cung cấp công cụ hỗ trợ cho các dạng email mã hoá. Một ví dụ điển hình là Google, tức dịch vụ gmail. Nếu bạn vào đường link URL tên là:
https://mail.google.com/mail để đăng ký 1 tài khoản email với Google thì bạn sẽ có một địa chỉ email mà sử dụng nó thì nội dung email của bạn khi gửi đi sẽ được mã hoá.
Cho nên, trên đường thư tới tay ngừơi nhận, an ninh theo dõi trên mạng không thể biết được nội dung của lá thư. Thế nhưng, điều này không có nghĩa đây là cách an toàn tuyệt đối. Vì thư của bạn được tải về trạm chuyển thư là Google trước khi được gửi tới người nhận, thì cũng có khả năng là khi được chính quyền Việt Nam yêu cầu, Google có thể sẽ hợp tác bằng cách cung cấp cả nội dung email và thông tin của người gửi.
An ninh trong thế giới blog
Trà Mi: Còn về việc sử dụng nhật ký điện tử Blog để trao đổi, phổ biến thông tin hay bày tỏ quan điểm. Ông có lời khuyên gì giúp những bloggers tại Việt Nam tự bảo vệ an toàn cá nhân?
Ông Ethan Zuckerman: Tôi có phổ biến những chỉ dẫn cụ thể về phương cách sử dụng Blog an toàn trên mạng. Bài viết nhan đề: “Blog ẩn danh với chương trình Wordpress và TOR” đựơc lưu trữ trong phần Tools and Guides trên trang
www.advocacy.globalvoicesonline.org. Qua đó, tôi đề nghị người dân tại những nước kiểm duyệt internet:
Trước hết, bạn nên tải phần mềm TOR từ trang web:
www.tor.eff.org vào máy tính hoặc vào đĩa, hay USB của mình, làm theo hướng dẫn từng bước trong đó. TOR là một chương trình có chức năng xoá dấu vết, dấu địa chỉ xuất xứ của người truy cập khi họ gửi, nhận, hay đọc thông tin trên mạng internet bằng cách mã hoá nhiều lần những thông tin trao đổi trên net của người đó và chuyển qua nhiều máy chủ trung gian khác nhau trước khi gửi tới người nhận.
Sau khi đã có công cụ vựơt tường lửa TOR trong tay, nghĩa là có thể yên tâm rằng mọi hoạt động của bạn trên mạng được bảo mật, bạn nên đăng ký một địa chỉ email với Gmail.
Kế đến, bạn cần tạo ra một tài khoản với
www.wordpress.org, là một phần mềm trọn gói chỉ dẫn, hỗ trợ tạo blog rất phổ biến, tương tự như yahoo 360 độ.
Nhớ rằng khi tạo địa chỉ email với Gmail và mở blog với Wordpress, bạn đều phải sử dụng TOR để bảo mật an toàn. Có như vậy, cả Gmail và Wordpress đều không biết đựơc những thông tin cá nhân của bạn. Họ chỉ thấy được là bạn sử dụng TOR để đến với họ, nhưng họ không biết đựơc vị trí của bạn đang ở đâu, từ quốc gia nào.
Cho nên, cho dù có đựơc chính quyền Việt Nam yêu cầu đi chăng nữa, thì Gmail và Wordpress cũng không hề có được thông tin cá nhân của bạn để giao nộp hay tiết lộ.
Làm những việc này, bạn sẽ có được một địa chỉ email an toàn để mở blog và trang blog cá nhân để giao tiếp với mọi người trên khắp thế giới. Hơn nữa, mọi hoạt động trên blog bạn đều thực hiện với công cụ TOR thì công an mạng khó mà truy tìm được ra bạn là ai.
Đương nhiên cách này không phải là an toàn tuyệt đối, nhưng nó có tính bảo mật cao hơn và cũng dễ sử dụng đối với mọi người.
Những lưu ý khi vượt tường lửa
Trà Mi: Một hoạt động khá phổ biến trên net là truy cập và tiếp cận thông tin toàn cầu. Việc này vốn bị cản trở rất nhiều ở các chế độ độc tài bằng những bức từơng lửa, và công cụ ‘leo rào’ phổ biến hiện nay là dùng proxy. Theo ông, để vựơt tường lửa an toàn, cần lưu ý những điều gì?
Ông Ethan Zuckerman: Chúng tôi không đề nghị sử dụng các proxy công cộng vì bạn không thể biết đựơc người đang vận hành các proxy công cộng đó là ai.
Chúng tôi khuyên bạn nên dùng TOR hay JAP, tức những proxy ẩn danh có hỗ trợ Java.
Những cư dân mạng ở Việt Nam nếu có bà con, bạn bè định cư ở nước ngoài thì nên sử dụng Psiphon. Ngừơi thân của bạn ở hải ngoại chỉ cần cài đặt chương trình Psiphon vào máy và đưa cho bạn những thông tin kết nối như địa chỉ IP của máy chủ, tên đăng ký sử dụng, và mật khẩu.
Một ngừơi ở Việt Nam truy cập internet bằng Psiphon thì cũng giống như là ngừơi ấy đang dùng máy tính của người thân ở nước ngoài để vào mạng vậy. Bạn sẽ có thể tha hồ truy cập vào bất cứ trang web nào mà bạn thích, mà không để lại dấu vết gì có thể bị truy ra cả. Bạn có thể tải Psiphon về từ địa chỉ:
www.psiphon.civisec.org. Đó là những cách vượt tường lửa an toàn nhất.
Tóm lại, bạn cần nhớ rằng khi đăng tải ý kíên cá nhân lên net hay lên blog, cần sử dụng các công cụ như TOR, Psiphon kèm theo để ‘ngụy trang’ và tăng cường tính bảo mật.
Một vấn đề khác đáng lưu ý là tuyệt đối đừng bao giờ tiết lộ bất cứ thông tin nào liên quan đến cá nhân của bạn trên mạng hay trên blog.
Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này